Tu Tập Từ Tâm

Ảnh: wordpress.com

Phật cho biết nếu người tu tập Từ tâm một cách thuần thục sẽ đạt được tám lợi ích. Trước hết chúng ta định nghĩa Từ tâm là gì.

Từ tâm là lòng thương yêu không điều kiện. Thông thường chúng ta thương yêu ai vì người đó có sự tương quan nào với mình. Hoặc họ là cha, là mẹ, là anh chị, bà con, thân quyến,… hoặc họ là bạn bè đối xử ưu ái với mình, và đậm đà tha thiết hơn cả nếu họ là tình nhân hay vợ chồng với mình. Lòng thương yêu của chúng sinh được chi phối thúc đẩy bởi nghiệp nó có điều kiện hẳn hoi. Chúng ta thương yêu cha mẹ vì người đã nuôi nấng sinh dưỡng săn sóc cho chúng ta từ thơ ấu, và có khi còn để lại cả gia tài sự sản về sau. Chúng ta thương yêu bạn bè vì họ đáp ứng những nhu cầu giao tiếp vui chơi, đỡ đần qua lại với chúng ta; chúng ta thương yêu tình nhân vì họ đem lại cho chúng ta khoái lạc của nhục dục; chúng ta thương yêu con cái vì chúng nó là sự kéo dài hình ảnh, tên tuổi, dòng họ của chúng ta ở lại với cuộc đời khi chúng ta đã nhắm mắt.

Tình thương có điều kiện như thế, bị chi phối bởi nghiệp như thế luôn luôn kéo theo ô nhiễm, bất an và phiền động. Nó luôn luôn đòi hỏi sự đáp ứng trở về cho tự ngã. Nếu không được đáp ứng trở lại, tình thương sẽ biến mất và đôi khi sẽ được thay thế với thù hận. Lịch sử đã chứng minh và tiểu thuyết đã diễn tả khá nhiều về loại tình thương có điều kiện này với kết quả sau cùng là sự chiếm chỗ của thù hận. Tình thương có điều kiện ràng buộc nhau, là sự đòi hỏi nhau. Cha mẹ thương con cũng vẫn đòi hỏi một sự hiếu để trở lại, con thương cha mẹ cũng vẫn đòi hỏi sự chăm sóc chu đáo. Vợ chồng thương nhau cũng vẫn đòi hỏi sự cung phụng về xác thịt. Có khi chỉ vì không thỏa mãn nhục dục, họ sẵn sàng ngoại tình và bỏ nhau. Tình thương yêu như thế không phải là Từ tâm được Phật tán thán.

1* Muốn biết Từ tâm này là gì, bạn hãy hướng tâm đến bất cứ một chúng sinh nào, không có chút liên quan gì với mình và tác ý khởi lên lòng yêu mến đối với chúng sinh đó. Trong lòng yêu mến hướng về chúng sinh đó, bạn không nghe lòng mình đòi hỏi nơi họ bất cứ sự đáp ứng nào, cũng không cần họ biết rằng bạn đang thương mến họ. Chỉ một sự thương yêu trìu mến, ưu ái, chứa chan thắm thiết của bạn dành cho họ một cách thuần khiết vô nhiễm mà thôi.

2* Rồi bạn hướng tâm đến những người quen biết trong cuộc đời mà từ lâu bạn vẫn phớt lờ đối xử hời hợt với họ, để chan rãi lòng thương mến với họ.

3* Rồi bạn hướng tâm đến từng người từ lâu ác cảm với bạn, hoặc đã mưu hại bạn. Phải khởi tâm họ chân thành bình đẳng như những chúng sinh khác. Thoạt đầu bạn sẽ nghe tình thương mới này đụng chạm với niềm thù hận bấy lâu, nhưng sau giây phút tỉnh giác, niềm thù hận cũ sẽ tan để nhường chỗ cho tình thương ngự trị.

4* Rồi bạn hướng tâm đến những thú vật lớn, những côn trùng nhỏ, những ngạ quỷ vô hình, những chúng sinh ở địa ngục. Khi khởi tâm thương mến những chúng sinh bất hạnh này, liền đó có niềm xót xa thương hại kèm theo. Từ đã sinh ra bi. Thương  yêu đã sinh ra thương xót.

Từ là thương yêu mọi loài một cách bình đẳng không điều kiện.

Bi là thương xót khi thấy chúng sinh đau khổ.

5* Rồi bạn lại tâm nguyện rằng bất cứ nơi nào có sự hiện diện của chúng sinh, nơi đó có tình thương của bạn ban phát. Bỗng nhiên một cách không cố ý, bạn thấy lòng từ bi của mình trùm phủ vô hạn trong pháp giới.

Nếu mới ban đầu chúng ta quán tưởng Từ tâm trùm khắp vô lượng, Từ tâm này chỉ có chiều rộng mà không có chiều sâu. Phải đi qua năm giai đoạn vừa kể, Từ tâm đó mới có đầy đủ bề sâu và bề rộng.

Thường xuyên chan rãi lòng thương yêu như vậy – tu tập Từ tâm – cho đến thuần thục, sung mãn như cổ xe, như căn cứ địa, người này thành tựu tám lợi ích.

–  Ngủ, thức thì được yên vui, không có ác mộng.

–  Được người yêu mến, phi nhơn ái mộ.

Điều này dễ hiểu vì Từ tâm lan tỏa tự nhiên cảm ứng với tâm chúng sinh nhất là các loài phi nhân thấy được tâm người, chúng sẽ mến mộ người nào có Từ tâm lan tỏa như vậy.

–  Được chư thiên độ trì.

Những thiên tử là những vị đã từng vun bồi Từ tâm nhiều đời, tích lũy thiện căn nhiều kiếp nên rất quí mến những chúng sinh đi theo con đường cao cả này. Với năng lực của thiên giới họ sẽ thủ hộ gìn giữ ai tu tập Từ tâm thoát khỏi những chướng nạn trên đường tu, bảo vệ sự tu tập vị này đến viên mãn.

–  Lửa, thuốc độc, đao kiếm không gia hại. Thuốc độc đây bao gồm những độc trùng như rắn, rết, bò cạp… Những hiểm nạn trên đây cảm ứng với tâm ác độc, không cảm ứng với Từ tâm. Có thể trong quá khứ vị này đã từng tạo nghiệp đáng bị quả báo lửa, đao, độc dược, nhưng với đời này tu tập Từ tâm thuần thục, quả báo kia được hóa giải qua hình thức khác nhẹ hơn.

–  Nếu không chứng quả Thánh sẽ sinh về cõi trời phạm thiên.

Cõi trời phạm thiên dành cho những chúng sinh tu tập sung mãn Từ tâm và giữ gìn phạm hạnh, đồng thời có sở đắc trong Thiền Định.

–  Tu tập Từ tâm trợ giúp rất nhiều cho Thiền Định giải thoát.

“Các kiết sử yếu dần
Thấy được sanh y diệt”

Tu tập Từ tâm có công năng phá dần các kiết sử che tâm. Kiết sử tan đến đâu, Thánh vị tăng đến đó, cho đến tận cùng thì sanh y đều chấm dứt, được viên mãn Niết Bàn.

Thể Niết Bàn là thể của Đại bi (Kinh Đại Bát Niết Bàn, hệ Phật giáo phát triển). Thế nên ai gieo nhân đại bi sẽ được quả Niết Bàn. Và khi đã thành tựu Niết Bàn tức là viên mãn Đại bi và thắng trí, vị này sẽ ra vào tam giới hóa độ chúng sinh mà không ai thấy được dấu vết.
Vì sao tu tập Từ tâm có công đức như vậy?
Như chúng ta đã phân biệt giữa phước và đức.
Phước là do lợi ích chúng sinh.
Đức là do cái tốt của tự tâm.

Tu tập Từ tâm tức là tăng trưởng đức bên trong. Đức là cội gốc vững bền cho mọi phước nghiệp bên ngoài, là vốn liếng để tựu thành vô lượng công hạnh khác. Người thuần thục Từ tâm là người đã có sẵn kho tàng vô giá, công đức của Từ tâm đủ sức phá tan dần các kiết sử, trợ duyên lớn lao cho Thiền Định giải thoát.

Trong Pháp Cú truyện tích có thuật, một số Tỳ Kheo ở trong rừng tu tập bị các thần cây phá phách không yên. Phật dạy các vị khởi Từ tâm đối với chúng sinh. Sau đó, chư thiên đã hộ trì sự yên ổn cho các vị tiến tu.

Lòng Từ cảm ứng sự hỗ trợ của chư thiên, hiệu quả hơn lời cầu nguyện từ một tâm hồn ích kỷ. Kẻ ích kỷ muốn được sự hỗ trợ của chư thiên bằng lời cầu nguyện, vẫn không thành tựu bằng một người chan rãi Từ tâm cho tất cả chúng sinh.

Bởi hai cách thức, một người sẽ giúp đỡ kẻ khác.

Hoặc do lý trí phân biệt thiện ác, nên người này cố gắng làm điều thiện, tránh điều ác.

Hoặc do Từ tâm thương yêu chúng sinh, nên người này cố gắng hy sinh giúp đỡ cho kẻ khác.

Nhưng trong hai trường hợp tác thiện như vậy, một do lý trí, một do Từ tâm, thì hành vi bởi Từ tâm vẫn làm tươi mát lòng người hơn cả. Chúng ta không phủ nhận vai trò quan trọng của lý trí trong việc phân biệt thiện ác, nhưng cũng cần có Từ tâm như dòng suối trong mát mùa hè, như tia nắng ấm áp mùa xuân một cách tự nhiên thoải mái. Người thuần lý trí sẽ đối xử tốt với mọi người nhưng vẫn có vẽ khô khan cứng cỏi. Còn người thuần thục Từ tâm sẽ đối xử  tốt với tất cả mọi người trong vẻ bao dung ưu ái, và ai cũng thích trường hợp thứ hai này.

Trích Thích Chân Quang, Luận Về Nhân Quả

Advertisements

Người Quay Bánh Xe

Ảnh: gettyimages

Tại Tây Tạng, “mani” hay bánh xe cầu nguyện là một loại bánh xe với vô số mật chú và văn tự bí ẩn, thường được quay xung quanh một trục, cùng chiều kim đồng hồ. Nhiều “mani” nhỏ như đầu ngón tay út, có thứ to như cả một căn phòng. Từ xưa, người Tây Tạng thường đặt bánh xe này trong dòng nước chảy để bánh xe được quay mãi với thời gian, để công đức của lời cầu nguyện lan tràn trong xử sở. Tương truyền rằng, ai quay bánh xe hay treo cờ cầu nguyện trong gió, người đó sẽ thực hiện được ước nguyên của mình.

Tỉnh Kham tại Tây Tạng cũng được ví như miền Tây hoang dã của nước Mỹ ngày xưa. Dân miền Kham vốn là dân kị mã và chuyên nuôi ngựa. Chỉ cách đây khoảng trăm năm, Kham gồm có nhiều tiểu quốc biệt lập có quân đội riêng. Ở đây người dân phải thi hành  nghĩa vụ quân sự, không có thanh niên nào được miễn.

Ngày xưa, ở miền Đông tỉnh Kham có một ông lão, người ta gọi tên ông là “lão quay bánh xe”, vì tay ông suốt ngày quay bánh xe cầu nguyện. Bánh xe này mang mật chú đại bi, Án Ma Ni Bát Mê Hồng, và do ông lão tự đẽo lấy.

Bà lão vợ ông đã chết từ lâu, sau một cuộc đời đáng quí trọng và đã tái sinh trong một cảnh trời. Từ ngày đó, ông lão sống trong một lều đá với đứa con trai duy nhất mà ông hết lòng thương yêu. Đứa con này có một con ngựa tuyệt vời, và nó yêu con vật này hầu như hơn cả mọi thứ trên đời.

Một ngày kia, con ngựa bỗng biến đâu mất, không còn gặm cỏ trên thảo nguyên, tìm đâu cũng không thấy. Nhiều người tốt bụng cũng đi tìm ngựa giúp ông, cuối cùng không tìm ra, họ bắt đầu than vãn cho số phận hẩm hiu của ông. Còn ông lão lại bình thường như không. Tay ông quay bánh xe và niệm chú “Án Ma Ni Bát Mê Hồng” , như người Tây Tạng hay thầm đọc mật chú đại bi này của chư Phật thương xót loàii hữu tình. Ông nói với người hàng xóm thường than thở thay ông: “Bạn thân mến, than thở làm gì. Bạn biết không, cái đến, cái đi, đối với tôi, tôi đều thầm cảm tạ cả. Cứ đợi đi, ta sẽ thấy.”

Chỉ vài ngày sau, con ngựa bỗng quay về như  một phép lạ. Và cùng với nó có hai con ngựa hoang đẹp tuyệt vời. Ông lão và đứa con trai bắt đầu sắm sửa đai cương cho ngựa. Hàng xóm mừng rỡ đến vỗ vai chia vui. Ông lão lại quay bánh xe và nói:  “Tôi hết lòng cảm tạ sự may mắn này, nhưng ai biết đâu, đợi đấy. Ta sẽ thấy.”

Vài tuần sau, đứa con trai cưỡi ngựa hoang bị té gẫy chân. Hàng xóm mang đứa con về, than khóc cho sự rủi ro này, đứa con không làm việc được nữa. Ông lão ngồi im lặng thì thầm trước giường con, nhưng không hề than thở. “Cảm tạ đức Quán Thế Âm , dù sao con tôi cũng còn ở bên tôi. Hãy đợi xem.”

Không đầy một tuần trăng sau, lính tráng nhà vua đi lùng sục bắt thanh niên nhập ngũ để chiến đấu chống quốc vương láng giềng. Chỉ đứa con nằm liệt giường kia mới khỏi bị kêu đi. Hàng xóm vui mừng cho ông, vì ông là người duy nhất còn có con trai bên mình. Ông lão mỉm cười, đặt bàn tay nhăn nheo lên đốt chân gãy của đứa con, đưa mắt  nhìn ba con ngựa đang gặm cỏ ngòai đồng. Ông lão hát bài kệ tặng con:

“Cuộc  đời mãi quay nhanh,

Lên xuống như bánh xe nước.

Thân này đã hiệnh hữu bao lần, quay tròn vô tận,

Thân này đã lấy hàng ngạn dáng hình khác nhau

Mỗi một dạng hình lại hủy hoại, lại hình thành

Như đất sét ướt thành hình trên bánh xe người thợ gốm.

Cái thấp sẽ lên cao, cái cao lại xuống thấp,

Rồi một ngày – cứ đợi đi,

Cái tối tăm sẽ sáng tỏ; người lắm của sẽ mất gia sản; mọi hình thái sẽ thay đổi,

Trong trò nhảy múa vô tận của hai mặt nhị nguyên.

Con ơi, nếu con là một đứa trẻ đặc biệt,

Người ta sẽ khám phá ra con thuộc một dòng tái sinh

Và cho con vào tu viện với các Lạt-ma.

Nếu con khôn ngoan và ăn nói trôi chảy

Người ta sẽ cho con làm việc văn phòng

Và cột mình sau một cái bàn viết.

Mỗi con ngựa  “tặng” cho con một đống chuyện phải làm,

Mỗi giàu sang chấm dứt bằng sự tranh chấp,

Ai biết được, ngày mai nghiệp nào sẽ tới,

Ngày hôm nay gieo gì, một kiếp nào nó sẽ chín,

Và sẽ gặt trọn vẹn, đó là điều chắc chắn.

Vì thế hãy tốt với mọi điều – vô tâm không phán đóan,

Không tham cầu điều xấu ác.

Tất cả, thêm hay bớt, được hay thua,

Chỉ là ảo ảnh.

Đừng hy vọng, cũng đừng sợ hãi , con ơi,

Đừng mong cầu, và vì thế cũng chẳng thất vọng.

Chấp nhận tất cả, nó đến hay nó đi,

Và sống thuận theo lẽ trời lồng lộng,

Hãy thật giản dị, chẳng lo âu,

Và sống thuận theo Phật tính đang ở trong con,

Và yên nghỉ trong niềm vui của tự tính.

Con có thể bắn bầu trời bằng bao nhiêu mũi tên,

Bao nhiêu cũng được con à,

Nhưng chúng sẽ rơi trở lại xuống đất tất cả.”

Trích Surya Das, Sư Tử Tuyết Bờm Xanh

Nguyên Nhân Của Đau Khổ

Ảnh: authorstream.com

Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Malla tại Uruvelakappa, rồi thôn trưởng Bhadraka đi đến Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn:

“Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết cho con về sự tập khởi và chấm dứt của khổ.”

“Này thôn trưởng, nếu y cứ vào quá khứ hay vị lai để nói về nguyên nhân (Sự tập khởi) và sự chấm dứt của đau khổ, ông sẽ có phân vân nghi ngờ. Nhưng ngay chính tại đây, với sự có mặt của ông, ta sẽ thuyết về nguyên nhân và sự chấm dứt của đau khổ. Hãy lắng nghe và suy nghiệm, ta sẽ nói.”

“Ông nghĩ thế nào, này thôn trưởng, nếu ở tại Uruvelakapapa này có những người bị giết, hoặc bị tù, bị thiệt hại, bị chỉ trích, ông có khởi lên lo lắng buồn khổ không?”

“Bạch Thế Tôn, với những người này con có khởi lên lo lắng buồn khổ và với những người khác con không có khởi lên lo lắng buồn khổ.”

“Vì sao có sự sai khác như vậy?”

“Bạch Thế Tôn, với những người mà con không có thương mến thì dù họ có bị giết… con không có khởi lên lo lắng sầu muộn. Nếu với người mà con có thương mến thì khi họ bị giết… con có khởi lên lo lắng sầu muộn.”

“Như vậy, chính ông đã xác định do có thương mến mới có lo lắng sầu muộn. Cũng vậy, dù quá khứ hay vị lai, nếu có khổ não khởi lên, đều từ ái dục làm căn bản, từ ái dục làm sở nhân. Ái dục là căn bản của khổ.”

(Trích Tương Ưng Bộ kinh 4, tr 328)

NHẬN XÉT:

Bài kinh này có vẻ triết lý hơn là Nghiệp báo. Tuy nhiên nó cũng là chuỗi Nhân Quả có liên quan với nhau. Thay vì giảng Tứ Diệu Đế cho thôn trưởng Bhadraka, Đức Phật đặt vấn đề thực tế hiện tại để ông tự xác nhận bằng suy nghiệm của chính mình rằng vì có ái dục nên có đau khổ. Phật đã hệ thống điều này trong giáo lý Tứ Diệu Đế –  Bốn sự thật mầu nhiệm – rằng có khổ với tám loại và ái là nguyên nhân của khổ, có Niết Bàn chấm dứt khổ và ái, và có con đường đưa đến Niết Bàn đó. Trong giáo lý Mười hai nhân duyên, ái là một mắc xích quan trọng tác động đến vòng luân hồi vô tận.

Vì thương con mà cha mẹ phải lo lắng đủ cách cho đời sống và tương lai của nó. Nếu sau này nó tỏ vẻ ruồng rẫy sơ sài, cha mẹ sẽ thất vọng đau khổ vô cùng.

Ai cũng biết tình yêu đưa đến hôn nhân và hôn nhân đưa đến vô số trách nhiệm, bất an và phiền muộn.

Thật ra, tâm từ không đơn giản là tình thương yêu giữa người này với người kia, nó còn là lòng ham muốn đối với ngũ dục người tham sắc, kẻ ham danh, người ưa ăn, kẻ thích ngủ, người tham tiền, kẻ lụy tình… Nếu có thương yêu ai, tất cả đều bắt nguồn từ ham muốn khoái lạc của chính mình.

Chúng ta chỉ yêu mến người nào đem lại vui thú cho chúng ta, và chúng ta sẽ oán hận kẻ nào đem lại đau khổ cho chúng ta. Tình yêu thương chỉ là chiêu bài che đậy cho sự ham muốn của tự kỷ. Không có ham muốn của tự kỷ, tình yêu thương biến mất.

Bạn sẽ nêu lên rằng đau khổ không chỉ đơn thuần là nỗi lo lắng, phiền muộn, băn khoăn, thất vọng… nghĩa là những trạng thái của tâm, nhưng nó còn là những hoàn cảnh bất như ý như đói kém, tai nạn, bị nhục mạ, làm ăn thất bại… Thật ra người không ham giàu thì nghèo không là nỗi khổ; không thương yêu thì xa nhau không tiếc nhớ; không ghét nhau thì gần nhau không bực bội; không tự ái thì bị nhục mạ không khó chịu; không cần danh vọng thì mất chức không là nỗi bận tâm. Có câu chuyện về người lạc quan (của Mỹ) như sau:

–  A cheerful man –  Người lạc quan.

Có một người tài xế lái xe lửa lạc quan đến kỳ lạ, bất cứ một sự kiện gì xảy ra, anh đều nhìn thấy khía cạnh tốt của nó để vui mừng mà không bao giờ quan tâm đến khía cạnh xấu của nó. Bạn bè anh vừa ngạc nhiên vừa thán phục đặc tính lạ lùng này.

Một hôm xe lửa đi trật đường rầy, xe cứu thương đưa anh vào bệnh viện. Cuối cùng anh bị cưa mất một chân, bạn bè anh đến thăm, sau khi an ủi chia buồn xong họ nói:

“Chúng tôi nghĩ rằng trong trường hợp này anh không thể tìm thấy một khía cạnh tốt nào cả, phải không, người bạn thân mến của chúng tôi?”

Anh cười bảo:

“Có chứ, từ nay tôi chỉ tốn tiền mua một chiếc giày mà thôi!”

Rõ ràng đối với người như thế này, tai nạn cũng không là nỗi khổ. Anh không quá yêu thân thể của mình nên khi bị hư hao, anh không tiếc rẻ. Đối với mọi sự kiện linh tinh khác, vì không bao giờ buồn nên anh mới bình tâm nhìn ra khía cạnh tốt của nó để chỉ cho mọi người cùng thấy. Nếu buồn khổ vì những khía cạnh xấu, chúng ta không bao giờ nhìn ra khía cạnh tốt của chính sự kiện ấy. Tuy nhiên ở đây chúng ta không đi tìm khía cạnh tốt của vấn đề để bù đắp cho khía cạnh xấu, chúng ta chỉ đoạn trừ được ái dục thì đau khổ sẽ vắng bóng.

Lõa thể ngoại đạo Kasspa đến hỏi Phật về nguyên nhân của đau khổ theo quan niệm Nghiệp báo, rằng khổ do chính người ấy gây ra (thân đời trước và thân đời này là duy nhất).

Hoặc khổ do người khác gây ra (Thân đời trước và thân đời này khác hẳn).

Hoặc khổ vừa do người ấy vừa do người khác gây ra (kết hợp cả hai).
– Hoặc không có khổ.
– Hoặc có khổ mà Phật không thấy.

Trường hợp nào Đức Phật cũng không đồng ý.

Cuối cùng ngoại đạo Kasspa yêu cầu Phật nói về nguyên nhân của đau khổ.
Phật bảo:
“Ta nói đến con đường trung đạo rằng do vô minh duyên hành… do ái duyên thủ… nên thành toàn bộ đại khổ ấm này”

Nguyên nhân của đau khổ là ái dục, một nguyên nhân tâm lý hơn là Nghiệp báo. Tuy nhiên nó cũng có ảnh hưởng Nghiệp báo. Nếu chúng ta đã từng ràng buộc người khác trong tình yêu và tình dục của chúng ta, nghĩa là gây cho họ ô nhiễm trong ái dục, thì duyên ái dục này sẽ trở lại trói buộc chúng ta trong vị lai, khiến cho chúng ta khó có một đời sống thanh thản giải thoát vì thế một người muốn giải thoát thì không được quan hệ ái dục với bất cứ chúng sinh nào, và cũng không được làm mai mối tác hợp cho những chúng sinh khác quan hệ ái dục với nhau. Nếu có điều kiện chỉ nên cởi mở làm nhẹ bớt ái dục của chúng sinh, khuyên họ tìm hạnh phúc trong những mục tiêu cao thượng hơn là đắm mình mãi trong vũng bùn ái dục mà không có ngày ra khỏi. Chúa Jésus bảo:

“Đừng tưởng ta đến để kết hợp thế gian, trái lại, ta đến để vợ phải xa chồng, con phải xa cha, người thân mến phải chia cắt”

Chính chúa Jésus cũng muốn giải tỏa ái dục của cuộc đời để cho mọi người tìm thấy hạnh phúc cao cả của “Thiên quốc”.

Dĩ nhiên trong vô lượng kiếp quá khứ, chúng ta đã từng là vợ, là chồng với biết bao người. Nếu Nghiệp báo này cố định thì chắc chắn chúng ta phải bị ái dục kéo níu và không thể giải thoát. Nhưng may mắn thay, Thế Tôn đã có con đường Bát thánh đạo để đoạn trừ mọi ái dục mà chánh định là cốt tủy. Người quyết tâm tu Bát thánh đạo, thành tựu chánh định thì ái dục biến mất mọi khổ não sụp đổ, những duyên nợ quá khứ cắt đứt.

Tổ Sư Tử thản nhiên đưa đầu cho vua chém. Thiền sư Tâm Đạo (ở Văn thù) ngồi chờ giặt đến lấy giáo đâm vào tim, máu chảy ra thành dòng sữa trắng. Khai ngộ xong cho Thiện Hội (ở Giáp Sơn), thiền sư Hoa Đình Thuyền Tử lật úp thuyền ra đi… Những vị thành tựu chánh định, đoạn dứt ái dục thì không còn cái gì khiến cho các ngài đau khổ. Nếu chúng ta quan niệm đau khổ là những hoàn cảnh bất như ý do Nghiệp báo đem lại, chúng ta sẽ rơi vào tà kiến của ngoại đạo.

Một lần Thế Tôn đi đến những ngoại đạo khổ hạnh, trong thấy họ hành khổ hạnh bằng nhiều cách quái lạ, như đứng một chân, phơi nắng chống tay chỏi chân lên trời, ăn cỏ, bò lết như chó, nằm trên tro và gai… Phật hỏi họ làm như thế đưa đến mục đích gì. Họ đáp:

“Thưa hiền giả Gotama, tôn sư của chúng tôi tự xưng là người có tri kiến trong lúc ngủ cũng như lúc thức. Người bảo rằng do nghiệp quá khứ nên có đau khổ. Có đau khổ tức là không giải thoát. Nếu ai thực hành khổ hạnh viên mãn, nghiệp quá khứ hết, sẽ được giải thoát an vui.”

“Nhưng các ông có tự biết quá khứ đã tạo nghiệp nhiều ít mà mỗi người phải thực hành khổ hạnh loại nào trong bao lâu mới đủ?”

“Thưa hiền giả Gotama, chúng tôi không biết!”

“Các ông thực hành dựa trên sự không biết, làm sao các ông có thể biết kết quả sẽ ra sao?”

“Thưa, còn hiền giả nói thế nào về nguyên nhân của đau khổ và sự chấm dứt của đau khổ?”

“Ta nói có tham, có sân, có si là có đau khổ. Không tham, không sân, không si thì không có đau khổ.”

Ngoại đạo quan niệm đau khổ là hoàn cảnh bất như ý do nghiệp quá khứ đem lại, họ tự nguyện trả trước bằng cách tự đày đọa thân xác mình cho đến cùng cực của đau khổ. Trong ý chí chịu đựng khổ hạnh đó, đôi khi họ xem thường đệ tử Phật, không thực hành khổ hạnh như họ, có vẻ sống dễ dãi hơn. Họ không nhìn thấy bản chất giả dối của đau khổ chỉ là những tâm trạng phù ảo được xây dựng từ điều kiện tham sân si. Đấng Chánh Đẳng Giác nhìn thấy rõ đau khổ chỉ là một ảo tưởng có điều kiện, khi những điều kiện này bị đoạn trừ, đau khổ biến mất. Do nhìn rõ điều này nên đường lối tu hành của đạo Phật không thiên về khổ hạnh hay hưởng thụ, chỉ sống thế nào để thuận tiện cho việc đoạn trừ tham sân si, họ phải giữ giới và sống đời đơn giản để không tăng trưởng lòng tham, nhưng họ cũng cần ăn uống đủ sức khỏe để trợ giúp cho việc tọa thiền khuya sớm, và chính nơi công việc Thiền Định này họ đoạn trừ được tham ái.

Tóm lại, nguyên nhân của đau khổ có vẻ thuộc về triết lý hơn là thuộc về Nghiệp báo, tuy nhiên, Nghiệp báo cũng dự phần rất nhiều trong đời sống tu hành của một người, mà nếu họ không thấu đáo về Nghiệp báo loại này, họ sẽ gặp nhiều trở ngại.

Trích Thích Chân Quang, Luận Về Nhân Quả

Từ Bi Quán

Ảnh:kadampa.org

Từ là đem niềm vui đến cho người, bi là lấy nỗi khổ của người ra. Chúng ta ai cũng có hạt giống từ bi, và nhờ thực tập quán chiếu “thương người như thể thương thân” ta triển khai những hạt giống này thành những nguồn năng lực dồi dào. Từ bi là tình thương đích thực không kỳ thị vướng mắc nên không gây khổ đau phiền não.

Chất liệu của từ bi là sự hiểu biết, khả năng đi vào da thịt của người kia, làm một với họ, với mọi niềm đau nổi khổ của họ. Bi có nghĩa là thông cảm với cái khổ của người và có năng lực chuyển hóa cái khổ đó.

Chúng ta có thể bắt đầu tập quán chiếu về những người đau khổ về thể chất, những người yếu đuối bịnh hoạn, những người cùng cực bơ vơ không có ai nương tựa. Những người này ở đâu cũng có, rất dễ thấy. Có những trường hợp vi tế hơn. Có những người có vẻ không có gì là đau khổ, họ rất kín đáo, nhưng nếu quan sát kỹ, ta cũng thấy được những dấu hiệu chứng tỏ họ cũng có những niềm đau. Cả những người sống trên nhung lụa cũng có những đau khổ của họ.

Khi ta quán chiếu về những người này, lấy họ làm đối tượng cho sự thực tập để quán chiếu về từ bi, ta phải nhìn cho sâu và cho lâu vào nỗi đau của họ, dù khi đang ngồi thiền hay thực sự tiếp xúc với họ, ta phải nhìn cho kỹ để thấu triệt nỗi đau của họ đến khi ta cảm thấy niềm xót thương trào dâng trong lòng.

Nhờ quán chiếu sâu sắc như vậy mà xúc cảm của ta biến thành hành động. Ta thấy câu nói “tôi thương anh vô cùng” chưa đủ mà ta tìm mọi cách để làm vơi nỗi khổ của người kia. Từ bi có mặt khi ta thực sự làm người kia bớt khổ. Cho nên ta phải làm nẩy nở và nuôi dưỡng lòng từ bi trong ta. Khi ta tiếp xúc với người kia, ý nghĩ, lời nói và hành động của ta phải thể hiện được lòng từ, dù thân khẩu của người kia chưa thanh tịnh cũng vậy.

Ta phải thực tập như thế nào mà lòng từ bi của ta lúc nào cũng có mặt, chứ không phải chỉ có mặt khi người kia dễ thương. Tình thương của ta như vậy mới đích thực và vững chắc. Ta có nhiều an lạc hơn và người kia cũng được an lạc theo.

Niềm đau của họ sẽ từ từ giảm thiểu và đời sống của họ dần dần sáng sủa và tươi mát hơn.

Ta cũng có thể quán chiếu về những người làm ta đau khổ vì chính họ cũng đang đau khổ. Đó là điều chắc chắn. Chỉ cần tập theo dõi hơi thở và quán chiếu là ta có thể thấy được niềm vui của họ. Một phần những nỗi đau khổ và khó khăn của họ là do cha mẹ họ trao truyền từ khi họ còn nhỏ. Mà cha mẹ họ cũng có thể là nạn nhân của ông bà tổ tiên họ. Những hạt giống xấu cứ như vậy được truyền trao đời này sang đời kia. Nếu thấy rõ điều đó, ta sẽ không còn trách cứ hay giận hờn họ nữa. Ta đã hiểu được lý do vì sao họ đối xử không đẹp với ta. Ta không giận mà trái lại ta cầu mong sao cho họ bớt khổ đau. Ta không cần phải tìm đến họ để hòa giải. Khi ta biết nhìn sâu, ta đã hòa giải với chính ta rồi.

Mọi vấn đề đã được giải quyết. Lòng ta nhẹ nhàng và môi ta nở nụ cười tươi. Sớm muộn gì người kia cũng thấy được thái độ hòa ái của ta và cũng sẽ trở nên tươi mát như ta.

Cho nên có từ bi, ta có an lạc hạnh phúc mà người khác cũng có được an lạc hạnh phúc. Chánh niệm là chất liệu nuôi dưỡng cây hiểu biết để từ đó hoa từ bi nở ngát hương thơm. Từ bi không phải là một ý tưởng chỉ nằm trong đầu ta. Không phải chỉ cần ngồi yên một chổ và quán tưởng về từ bi là ta có thể gieo rắc tình thương đến mọi nơi như gửi đi những luồng âm thanh hay ánh sáng.

Từ bi phải được thể hiện cụ thể hơn qua cách ta ăn ở đối xử với mọi người chung quanh.

Tình thương là một nguồn suối dạt dào nằm sâu trong lòng ta, chỉ cần ý thức được điều đó là ta đã có thể ban phát niềm vui đến cho bao người. Một câu nói hiểu biết dễ thương cũng đủ làm vơi bớt nỗi khổ, đánh tan mọi nghi kỵ hiểu lầm, đem lại tin yêu và tự do. Một hành động đúng lúc có thể cứu sống một mạng người. Mà hành động và lời nói ta chân chánh là nhờ ý nghĩ ta chân chánh.

Khi có tình thương chân thật thì tất cả những gì ta nghĩ, nói và làm đều trở nên phép lạ và đem lại nhiều lợi lạc.

Trích Thích Nhất Hạnh, An Lạc Từng Bước Chân

Ván Cờ Sinh Tử

090517230850-894-344Ảnh: thehetre.vn

Lời vào truyện:

Có bao giờ chúng ta nghe từ miệng một vị thiền sư dạy Ðạo cho môn sinh như thế này chưa:

“- Này chư tử! Thuở còn trai trẻ, làm kiếm khách Áo Trắng, ta ít khi rút kiếm ra khỏi bao, rút ra là phải chém. Hàng tục sĩ gọi ta là Kiếm Vương.

Này chư tử! Thuở còn trai trẻ, làm giang hồ kỳ thủ, ta ít khi chơi cờ. Khi đã chơi, một quân cờ đặt xuống – trọng lượng một quả núi – sẽ kết thành định mệnh. Ðịnh mệnh không lập lại hai lần. Giòng sông đã chảy, vậy thì những quân cờ kế tục đi đến chung quyết. Không do dự. Không ngập ngừng. Người đời gọi ta là Kỳ Vương.

Này chư tử! Kiếm Vương ta cũng bỏ, Kỳ Thủ ta cũng lìa, khoác tay nải, dép cỏ, nón mê lang thang học Ðạo. Bao mươi năm chí thú tinh cần mới thấy được cửa vào. Mười năm lên núi sâu thiền tu, tịch mặc. Sở chướng đã trừ. Mê lầm đã tuyệt. Núi cũng là núi. Sông cũng là sông thôi. Kiếm Vương kia thành Kiếm Ðạo. Kỳ Vương kia thành Kỳ Ðạo. Tại sao như thế?

Này chư tử! Nay ta có mấy lời tâm huyết, như dao chạm đá, như kiếm xuyên mây. Hãy nghe mà lập tâm lập hạnh. Ðốt cháy kiến hoặc, dội tắt nghi tình, vào chốn ngũ trần mà thong dong tự tại.

Hãy nghe đây! Phàm người tu Phật, một niệm phóng đi, tác thành nghiệp báo. Vậy hãy như tay Kiếm Vương kia, chớ khinh suất mà ra chiêu, đừng cho ý tưởng tự do khởi động. Khi ngưng tụ sinh lực. Lúc buông xả nghỉ ngơi. Hãy xuất niệm như xuất kiếm. Ðã xuất là phải đạt.

Này chư tử! Phàm người tu Phật, phải tinh luyện tư duy, khổ hạnh tư duy. Một tư duy đặt trên đối tượng. Một tư duy dẫn dắt hành động. Phải như tên kỳ thủ kia, một quân cờ đặt xuống, trọng lượng một quả núi. Giòng sông không chảy hai lần. Ðừng do dự. Ðừng ngập ngừng. Quân cờ đặt xuống là tác thành định mệnh, tác thành nhân quả, nghiệp báo.

Này chư tử! Hãy xuất cờ! Hãy xuất niệm! Hãy xuất kiếm! Bước tới! Không ngoảnh đầu! Không có sinh tử giữa giòng chảy trôi liên lỉ! Không có sau trước giữa vòng tròn vô thỉ, vô chung!”

Bài giảng kia đã từ một tu viện thâm u trên núi cao, đâm xuyên qua mấy đỉnh mây mù, băng tuyết, rơi xuống, cắm vào giữa lòng các đô thị. Người ta tỉnh giấc, bàng hoàng. Ngàn năm Phật Giáo kinh điển, từ chương, thụ động, tiêu cực, đắm say, bùa chú, hương khói vật vờ; chợt đứng dậy, vươn cao, nắm định mệnh mình bước đi như thớt voi lâm trận, hùng dũng hô to, cánh sát cánh, vai sát vai… ánh lửa Trí Tuệ bùng lên, thổi sinh khí, đem lại Cái Ðẹp, Sức Mạnh và Tự Do Tối Thượng cho con người.

Phật Giáo từ thời Khâm Minh Thiên Hoàng, đến đây, hậu bán thế kỷ XV, sống lại, mang cơ thể mới, tinh thần mới, dẫn Nhật Bản đi vào thời kỳ đại phú cường. Công lao ấy có ai ngờ rằng khởi từ trí Tuệ của một người: thiền sư Dai-so-kim! Ngài tịch năm 1491, nơi một am thất nhỏ ở Keti phía nam Tây Hải Ðạo.

Truyện ngắn sau đây thuật lại một trường hợp dậy Ðạo của Người.

o0o

Thanh niên Ka-jo-ju sau khi thất vọng về đường công danh, tình yêu, sự nghiệp bèn tìm đến một tu viện trên non cao và thưa với Tu Viện Trưởng:

– Thưa ngài! Con đã thấy rõ một mặt thật của đời nên mong muốn giải thoát khỏi những đau khổ. Thế nhưng, con không có khả năng hành trì một thứ gì lâu dài. Không bao giờ con có thể sống nhiều năm trong thiền định, học tập, giới luật hay cái gì nghiêm túc tương tự như vậy. Con sẽ thối chí và rơi trở vào cuộc đời, dẫu biết rằng mình không còn chịu đựng được. Quyên sinh là biện pháp hay nhất, có lẽ. Thưa Ngài! Vậy thì con đường nào ngắn nhất, dễ dàng nhất dành cho những kẻ như con hay không?

– Có chứ! Tu Viện Trưởng, một thoáng lạ lùng nhìn người thanh niên rồi trả lời – Nếu con trung thực! Nhưng hãy cho ta biết là con đã học những thứ gì? Sở tri ra sao? Có thể có những khả năng như thế nào? Thảng hoặc, con thường hay tập trung tâm ý nhiều nhất vào chuyện gì?

Ka-jo-ju có vẻ nghĩ ngợi, sau đó, y thở dài thườn thượt:

– Ôi! Thực sự thì không có thứ gì! Con chưa nghĩ là mình phải nên như thế này hoặc nên như thế nọ! Vả chăng, mục đích của sự học cũng chỉ đưa đến hư vô và phù phiếm! Công danh, sự nghiệp giữa cuộc đời này cũng chỉ là giấc mộng đầu hôm. Hiện giờ gia đình con lại khá giả nên con không cần phải làm việc. Riêng về sở thích thì… tuyệt, con thích đánh cờ nhất! Cả đời, dường như tâm chí con chỉ tập trung vào đó thôi. Trong vài cuộc tranh giải gồm những kỳ thủ già dặn bốn phương, thỉnh thoảng con cũng giật được phần thưởng ưu hạng.

– Rất tốt! Tu Viện Trưởng gật đầu – Chưa đến nỗi phải bỏ đi. Nhưng mà điều này mới thật là quan trọng, con có niềm tin nào nơi ta không chứ?

– Con đã chọn lựa.

– Thế nào?

– Ngài là Kiếm Vương – Thanh niên Ka-jo-ju chợt nói lớn – lại là Kỳ Vương nữa. Ngài đã dùng sức mạnh của đạo đức và trí tuệ để thu phục nơi tu viện này những con ngựa hung hăng nhất, những tay giang hồ kiêu ngạo và bạc hãnh nhất. Không cần phải nói rằng người ta tín phục ngài như thế nào, ngài Tu Viện Trưởng ạ!

– Hỡi con, này Ka-jo-ju! Ta muốn hiểu cường độ tín phục ấy ở nơi riêng con thôi.

Nghe gọi đúng tên mình, Ka-jo-ju rúng động cả châu thân. Bất giác, thanh niên đưa mắt nhìn Tu Viện Trưởng, và y cảm thấy một sức thu hút kỳ lạ không cưỡng được.

Ka-jo-ju gật:

– Tín phục. Con hoàn toàn tín phục.

Tu Viện Trưởng chậm rãi quay qua bảo thị giả:

– Vậy hãy cho gọi tu sĩ Mu-ju đến đây cùng với bàn cờ của y.

Người được gọi là một tu sĩ trẻ, rất trẻ, vóc người tầm thước, dáng dấp nho nhã, khuôn mặt sáng rỡ, tròn trặn đầy phúc hậu.

– Mu-ju con!

– Bạch thầy, con nghe.

– Bao nhiêu năm con theo thầy học đạo. Con mời cơm, ta ăn. Ta gọi, con dạ. Ta giẫy cỏ, con cuốc đất… Tình thầy trò giữa chúng ta thật không có gì đáng phải phàn nàn cả chứ?

– Dạ, quả thế thật.

– Ta còn muốn hỏi rõ hơn nữa. Từ trước đến nay, con không hề mảy may nghi ngờ gì nơi ta đấy chứ?

– Phải nói ngược lại, bạch Thầy – giọng tu sĩ trẻ chợt như viên đá ngàn cân – phải nói là con tuân phục Thầy một cách tuyệt đối.

– Rất tốt! Vậy này Mu-ju! Ngay bi giờ ta yêu cầu ở nơi con sự tuân phục “Kim Cương Bất Hoại” đó.

– Xin vâng.

Tu Viện Trưởng – chính là thiền sư Dai-so-kim – chợt đứng dậy, bước tới bức tường phía đông. Ở đó có treo một thanh kiếm cổ, vỏ nạm bạc khảm xà cừ, nhưng tuế nguyệt đã phủ lên đấy một lớp bụi đục. Gần nửa thế kỷ nay, ngài không đụng đến thanh kiếm ấy. Cái thời Kiếm Vương trai tráng oanh liệt dường như mới hôm qua đây thôi. Ngài thò tay. Một tiếng động khẽ vang lên. Kiếm đã ra khỏi vỏ. Mũi kiếm sắc lạnh ngời ánh thép xanh biếc.

Thiền sư Dai-so-kim quay lại, đứng thẳng như một cỗi tùng gân guốc.

– Này Mu-ju! Ngài nói chậm rãi – Con hãy chơi cờ với chàng thanh niên này. Và nghe đây! Nếu con thua, ta sẽ chém đầu con. Nhưng ta hứa là con sẽ được tái sanh vào một cõi lạc phúc. Nếu con thắng, ta sẽ chém đầu chàng thanh niên. Suốt đời anh ta mải mê ham thích trò chơi đó, nếu để thua thì chém đầu y chẳng oan tí nào.

Hai người lạnh toát sống lưng nhìn Tu Viện Trưởng, và trong thoáng giây đó, họ hiểu rằng ngài nói thật.

Thanh niên Ka-jo-ju đứng trân, bất động, loáng thoáng theo hơi gió buốt lạnh câu nói xa xưa của Kiếm Vương: “Ta ít khi rút kiếm ra khỏi bao, rút ra là phải chém!” Bất giác, thanh niên đưa tay sờ lên cổ mình, mồ hôi lấm tấm, gai lạnh. Tu sĩ Mu-ju chỉ thoáng một giây sợ hãi nhu tí gợn trên mặt hồ rồi mất. Trọn đời bằng vào đức tin tuyệt đối nơi đức Thầy, nên việc giao phó định mệnh không phải là điều đáng suy nghĩ lâu.

Giữa thiền đường, lư trầm nghi ngút. Cơn gió lạnh lẽo lùa qua liếp cửa. Thiền sư Dai-so-kim ngồi xuống sau làn khói lung linh mờ ảo, tay nắm chặt đốc kiếm trịnh trọng với phong độ của một bậc tôn sư. Không khí đọng lại, trang nghiêm và tĩnh mịch đến ghê người.

Cả hai hoàn toàn bị khiếp phục.

Họ bắt đầu bước vào ván cờ sinh tử.

Ván cờ không còn là trò chơi nữa. Là cái gì nghiêm trọng nhất trên cõi đời này. Ván cờ chính là cuộc đời. Ván cờ chính là sinh tử. Và cả hai hoàn toàn tập trung tâm ý vào đó không một mảy may dám xao lãng.

Chỉ vài nước khởi đầu, thanh niên đã sớm hiểu là mình đang đối đương với một địch thủ kỳ tài và già dặn. Tu sĩ trẻ lại un đúc được đức trầm tĩnh của thiền môn. Ðó là những yếu tố đáng ngại. Mồ hôi từ trán chàng thanh niên chảy dài xuống ngực. Tu sĩ Mu-ju đã chiếm ưu thế mất rồi. Và như là một lão ngựa tự tin, sung sức – chỉ cần sải từng bước đều dặn giữ khoảng cách đầu ngựa.
Chiến thắng chỉ còn là thời gian.

Ka-jo-ju quên ngoại cảnh, quên bản thân, quên cả việc sống chết. Ngay giây phút này – tình yêu, công danh, sự nghiệp, ưu hận – là những đám mây đen bị xua tan một cách nhanh chóng. Tâm trí Ka-jo-ju hoàn toàn chú mục vào cái đam mê duy nhất của đời mình. Phong độ, sinh lực, thiện xảo, sự thông minh dễ dàng trở lại với chàng. Thế là Ka-jo-ju không khéo gỡ từng thế một. Tuy nhiên, tu sĩ Mu-ju vẫn tranh tiên. Rất chậm, vững chãi, từng bước vây hãm thành trì, không một sơ hở tối thiểu để cho chàng thanh niên lập lại thế quân bình.

Ðột nhiên, chàng thanh niên Ka-jo-ju bỏ thủ, bỏ thành trì, hy sinh quân mã, tung những đòn chớp giật. Lớp chết, lớp khác xông lên với khí thế quyết tử. Lấy công làm thủ là chiến thuật bình thường, nhưng tự hy sinh quá đột ngột, liều lĩnh và táo bạo như vật thì quả là Mu-ju mới thấy lần đầu. Ðến lượt tu sĩ trẻ toát mồ hôi, từng giọt, từng giọt rỏ xuống bàn cờ. Ka-jo-ju chỉ chờ có thế. Chỉ cần một thoáng bối rối lưỡng lự của đối thủ là y chém đông chém tây những thế táo bạo – nhưng chỉ là hư chiêu – rồi rút về an toàn, bình chân như vại.

– Ðệ tử vây Ngụy, cứu Triệu, hao tổn tâm cơ là chỉ mong cái thế bảo toàn – Ka-jo-ju thở phào nói – Thật ra, nếu đệ tử không thất vọng tình đời thì không đi những thế tuyệt mạng như vậy. Vì từ bi, vì trung hậu chân chất mà tiểu Sư Phụ mất thế thượng phong. Hiện giờ tiểu Sư Phụ dẫu hơn quân nhưng chuyện thắng bại khó biết phần ai.

Lợi dụng khi quân mã của tu sĩ đang tản mạn đó đây, thanh niên kéo đôi pháo giăng về giữ trung quân. Binh lính và ngựa ngăn ở ven sông. Một xa chợt đông, chợt tây, chợt tấn, chợt thoái xông xáo giữa chốn thiên binh vạn mã.

Tu sĩ trẻ bắt đầu thấy mình yếu thế. Tự tin một thoáng lay động là phía tả tiền bị viên hổ tướng của địch phá vỡ. Lão ngựa già của đối phương đưọc hai chốt hộ vệ chặt chẽ, hờm sẵn đã lâu, bây giờ hung hăng nhẩy đến thí mạng. Thế là đôi pháo bất khuất kiên cường của tu sĩ bị loại khỏi vòng chiến.

Mu-ju đã rơi vào thế thủ. Thỉnh thoảng vẫn đánh trả những đòn đầy trầm tĩnh và nội lực nhưng thanh niên vẫn đón đỡ dễ dàng. Vào phút bất ngờ nhất, thanh niên Ka-jo-ju tung quân dự bị. Hai pháo giữ nhà đồng loạt vọt qua sông, tung đòn tối hậu.

Tu sĩ đã nguy cơ thập tử nhất sinh.

Thanh niên len lén đưa mắt nhìn vị sư. Ðấy là một khuôn mặt trong sáng đầy trí tuệ do bao năm tinh cần giới luật. Ôi! Một dung dấp thật đẹp ở trong một tinh thần cao khiết. Thanh niên nghĩ. Vị tu sĩ này từ hòa và đôn hậu hết mực, mang linh hồn trong sáng như viên bạch ngọc không tỳ vết nhiễm ô; đâu có hắc ám, bụi bặm, hiếu chiến, táo tợn và đa sát như ta? Ôi! Một nhân cách như vậy mà bị kết liễu cuộc đời thật uổng lắm thay! Ta là gì? Một kẻ du thủ du thực, vô tích sự, ăn bám mẹ cha và xã hội; nếp sống dơ dáy, hư hỏng, nội tâm đầy rẫy những ham muốn bất chánh và hèn hạ. Giá trị đời ta chỉ có thế thôi. Rơm rác còn có ích hơn ta.

Thanh niên nhè nhẹ thở dài. Và lòng từ bi khởi lên dịu dàng xâm chiếm lòng chàng. Ôi! Cuộc đời vô giá trị của ta nên hy sinh cho cuộc đời có giá trị.

Nghĩ thế xong, thanh niên khôn khéo tạo những sơ hở kín đáo, chỉ những kỳ thủ trứ danh mới biết được. Một thế, hai thế. Vậy là quá đủ cho tu sĩ lấy lại quân bình rồi chiếm luôn ưu thế tấn công.

Thanh niên Ka-jo-ju biết mình sẽ thua, lát nữa thôi, nhưng chàng không đổ mồ hôi, không lạnh lưng, không lạnh gáy. Một an tĩnh mênh mông, thân thiết vây phủ tâm hồn chàng. Chưa bao giờ mà chàng chờ đợi cái thua – nghĩa là chờ đợi cái chết – một cách dịu dàng trong sáng, bình lặng và thanh khiết như vậy.

Tu sĩ trẻ ngần ngại. Ngón tay vừa thò xuống quân cờ định mệnh, vội rút lui. Cũng vì lòng từ bi mà tu sĩ không nỡ hạ thủ.

Bàn cờ bất động giữa hai người.

Ðối với những tay cờ ưu hạng, không có thế cuối cùng, Ka-jo-ju hiểu vậy, và vì đã nguyện hy sinh, bèn thò tay xuống…

Bỗng một làn khí lạnh lướt qua. Tu sĩ Mu-ju thoáng thấy thiền sư Dai-so-kim đứng dậy chập chờn sau làn khói hương. Và một tia chớp phủ chụp xuống đầu chàng thanh niên. Tu sĩ nhắm mắt lại, khẽ tuyên Phật hiệu…

Thiền đường lặng ngắt như tờ. Tu sĩ trẻ định thần mở mắt ra. Mắt y chợt tròn vo, khinh ngạc. Cái đầu với tóc tai rối bù của chàng thanh niên đã bị cạo nhẵn thín.

Và giọng thiền sư Dai-so-kim trầm ấm, mồn một bên tai:

– Chỉ cần có hai điều, Ka-jo-ju con hỡi! Ấy là sự tập trung tâm ý hoàn toàn và lòng từ bi. Hai yếu tố quan trọng của Ðạo Giác Ngộ. Thế mà hôm nay con học được cả hai. Con đã tập trung tâm ý có hiệu quả vào ván cờ. Sau đó vì lòng từ bi mà con nguyện hy sinh mạng sống mình. Thôi, hãy ở lại đây, áp dụng kỷ luật của chúng ta trong tinh thần đó. Giải thoát sẽ là kết quả đương nhiên như mũi tên đến tiêu điểm theo đường nhắm đúng.

Thanh niên Ka-jo-ju đưa tay sờ lên đầu mình, chàng mỉm cười.

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Mùi Vị Của Cuộc Sống

Zen_humor_laughing_monks_smallerẢnh: enlightened-spirituality.org

Một hôm Hạ Cái Tôn tiên sinh nhà giáo dục nổi tiếng đến thăm Hoằng Nhất đại sư (Lý Thúc Đồng). Khi ăn cơm, thấy đại sư chỉ một món dưa muối, Hạ Tiên Sinh hỏi:

–      Lẽ nào đại sư không cảm thấy món dưa muối này quá mặn sao?

Hoằng Nhất đại sư đáp:

–      Mặn có mùi vị của mặn!

Một lát sau, Hoằng Nhất đại sư ăn xong, bưng ly nước trong uống, Hạ tiên sinh lại nhíu mày hỏi:

–      Lẽ nào không có trà? Sao hằng ngày cứ uống nước trong nhạt ấy?

Hoằng Nhất đại sư đáp:

–      Nước trong tuy nhạt, nhưng nhạt cũng có mùi vị của nhạt.

Hạ Cái Tôn là bạn thân với Hoằng Nhất đại sư, nên mới hỏi vậy. Nhưng Hoằng Nhất đại sư đã vượt qua khỏi phân biệt mặn ngọt, sự vượt qua này không phải là không có vị giác, mà là thật sự cảm nhận được mùi vị ngon của mặn và vị mát mẻ của nước trong.

Lời bàn:

Câu “mặn có mùi vị của mặn, nhạt có mùi vị của nhạt” mà Hoằng Nhất đại sư nói là câu nói chứa đầy lẽ thiền khiến người ta ý vị vô cùng. Trên đường đời, có lúc chúng ta không có khả năng lựa chọn, lúc đó chúng ta phải học cách thích ứng với hoàn cảnh. Hợp với tan, hạnh phúc với đau khổ, hy vọng với thất vọng, giả như chúng ta nếm thử thì chúng đều có mùi vị, đều là thứ không thể thiếu trong cuộc sống. Hạnh phúc trong cuộc sống là ngọt, ngọt có mùi vị của ngọt; chia ly trong tình yêu là mặn, mặn có mùi vị của mặn; sự bình thường trong cuộc sống là nhạt, nhạt cũng có mùi vị của nhạt.

Trích Thành Thông, Trí Tuệ Của Thiền – Tinh Hoa Tư Tưởng Phương Đông

Meditation On Green Tara – Thiền Quán Đức Lục Độ Mẫu

greentara

Ảnh: sanatansociety.com

Taking Refuge – Quay Về Nương Tựa

I go for refuge to the Buddha,

Con quay về nượng tựa Phật

I go for refuge to the Dharma,

Con quay về nượng tựa Pháp

I go for refuge to the Sangha. (3x)

Con quay về nương tựa Tăng. (3x)

Setting the Mind to Enlightenment – Hướng Tâm Tới Sự Giác Ngộ

By virtue of giving and so forth,

Với hạnh bố thí,

may I become a Buddha for the benefit of all sentient beings. (3x)

nguyện cho con trở thành một vị Phật vì lợi ích của tất cả chúng sinh hữu tình. (3x)

4 Immeasurable – Tứ Vô Lượng Tâm

May all sentient beings have equanimity, free from attachment, aggression and prejudice.

Nguyện cho tất cả chúng sinh thảnh thơi, tự do khỏi sự gắn bó, bạo lực và định kiến.

May they be happy, and have the causes for happiness.

Nguyện cho tất cả hạnh phúc và có hạt giống hạnh phúc.

May they be free from suffering and causes for suffering.

Nguyện cho tất cả tự do khỏi khổ đau và hạt giống khổ đau.

May they never be separated from the happiness that is free from suffering. (3x)

Nguyện cho tất cả không bao giờ bị ngăn cách với niềm hạnh phúc tự do khỏi khổ đau. (3x)

7-Limbed Prayer – Kinh Thất Chi

Respectfully I prostrate with body, speech and mind;

Với lòng kính ngưỡng, con lạy xuống với toàn bộ thân, khẩu và ý của mình;

I present clouds of every type of offerings, actual and imagined;

Con xin dâng lên những đám mây của mọi loại cúng dường, thực tế và tưởng tượng;

I declare all the negative actions I have done since beginningless time,

Con xin thổ lộ tất cả những hành động tiêu cực mình đã làm từ vô thuỷ,

and rejoice in the merit of all Aryas and ordinary beings.

và hoan hỉ trong công lao của tất cả các vị chứng ngộ và chúng sinh bình thường.

Please teacher, remain until cyclic existence ends

Xin tôn sư hãy ở lại cho đến khi luân hồi kết thúc

and turn the wheel of Dharma for all sentient beings.

và quay bánh xe Pháp cho tất cả chúng sinh hữu tình.

I dedicate the virtues of myself and others to the great Enlightenment.

Con hồi hướng những đức hạnh của bản thân và những người khác cho sự Giác Ngộ vĩ đại.

Visualisation and Mantra Recitation – Quán Tưởng và Tụng Mật Chú

In the space before you, on a lotus and moondisc appears green Tara.

Trong khoảng không gian trước mặt bạn, trên một bông hoa sen và đĩa mặt trăng xuất hiện đức Lục Độ Mẫu.

Her body is made of green light, transparent like a rainbow.

Thân thể ngài được tạo bởi ánh sáng xanh lục, trong suốt như cầu vồng.

Her left leg is drawn up in lotus posture to symbolise control over desire.

Chân trái của ngài co lên trong thế hoa sen tượng trưng cho sự kiểm soát các ham muốn.

Her right leg is extended, symbolising that she is ready to rise to the aid of all beings.

Chân phải của ngài mở ra, tượng trưng cho sự sẵn sàng đứng dậy để cứu giúp tất cả chúng sinh.

Her left hand is at her heart in the gesture of giving refuge: the palm facing outward, thumb & ring finger touching, the other fingers raised.

Tay trái của ngài đặt trên trái tim và kết ấn mang ý nghĩa trao sự nương tựa: lòng bàn tay hướng ra ngoài, ngón tay cái và ngón đeo nhẫn chạm vào nhau, những ngón tay khác giơ lên.

Her right hand is on her right knee, in the gesture of giving high realisations: the palm faces outwards, thumb & index finger touching, the other fingers pointing down.

Tay phải của ngài để trên đầu gối và kết ấn trao mang ý nghĩa của sự chứng ngộ cao vời: lòng bàn tay hướng ra ngoài, ngón cái và ngón giữa chạm vào nhau, những ngón khác trỏ xuống dưới.

Both hands hold a blue utpala flower.

Cả hai bàn tay ngài đều cầm một bông hoa sen xanh.

She is very beautiful, dressed in celestial silks and smiles at you.

Ngài rất trẻ trung và rực rỡ trong y phục lụa huyền diệu và mỉm cười với bạn.

– Think of your problems, needs and aims and request Tara’s help from your heart.

– Hãy nghĩ về những vấn đề, nhu cầu, mục tiêu của bạn và thỉnh cầu sự giúp đỡ của Độ Mẫu từ trái tim bạn.

– Then she shines white light from her forehead into your forehead, eliminating problems and negativities of your body, do some mantras: OM TARE TUTTARE TURE SOHA

– Sau đó ngài toả ánh sáng trắng từ vầng trán ngài vào vầng trán bạn, tiêu trừ mọi vấn đề và sự tiêu cực trong thân thể bạn, hãy tụng vài lần câu mật chú: OM TARE TUTTARE TURE SOHA

– Next she shines red light from her throat into your throat, eliminating obstacles and negativities of your speech, do some mantras: OM TARE TUTTARE TURE SOHA

– Sau đó ngài toả ánh sáng đỏ từ vùng cổ ngài vào vùng cổ bạn, tiêu trừ mọi trở ngại và tiêu cực trong lời nói của bạn, hãy tụng vài lần câu mật chú: OM TARE TUTTARE TURE SOHA

– Next she shines blue light from her heart into your heart, eliminating all obstacles and negativities of your mind, do some mantras: OM TARE TUTTARE TURE SOHA

– Sau đó ngài toả ánh sáng xanh dương từ trái tim ngài vào trái tim bạn, tiêu trừ mọi trở ngại và tiêu cực trong tâm trí bạn, hãy tụng vài lần câu mật chú: OM TARE TUTTARE TURE SOHA

– Try to feel you are now free from al hindrances and problems, and that you have received the inspiration and energy to accomplish your aims.

– Cố gắng cảm thấy bây giờ bạn tự do khỏi tất cả sự cản trở và vấn đề, và rằng bạn đã được truyền cảm hứng và năng lượng để hoàn thành những mục tiêu của mình.

– Then Tara comes to the crown of your head, facing the same way as you.

– Sau đó Độ Mẫu tới đỉnh đầu bạn, mặt hướng về cùng phía với bạn.

– She dissolves into green light, which descends into your heart center.

– Ngài tan biến thành ánh sáng xanh lục và ánh sáng này đi xuống trung tâm trái tim của bạn.

– Your mind merges with Tara’s’ mind.

– Tâm bạn hợp nhất với tâm Độ Mẫu.

– Keep this feeling as long as possible.

– Hãy giữ cảm giác này bao lâu mà bạn có thể.

Dedication – Hồi Hướng

By this virtue may I soon

Với hạnh nguyện này mong con sớm

reach a Guru-Buddha-state,

đạt tới trạng thái của Đức Phật,

and lead each and every being

và dẫn dắt tất cả chúng sinh

to that state of Buddhahood.

tới trạng thái đó của Chư Phật

May the precious Bodhicitta

Nguyện cho Bồ đề tâm quý báu

not yet born, arise and grow

dẫu chưa sinh ra, lớn lên và trưởng thành

may that born have no decline

sẽ sinh ra, không suy vi

but increase forever more.

mà tăng trưởng mãi mãi.