Thiền Duyệt

breathe-istock

Ảnh: readersdigest.com.au

Các bài tập ý thức hơi thở thường có tác dụng thiền duyệt. Duyệt là niềm vui, sự an lạc. Thiền duyệt là niềm vui, sự an lạc do sự thiền tập đưa tới. Trong thiền môn có danh từ thiền duyệt vi thực có nghĩa là niềm vui của thiền tập được sử dụng như thức ăn để nuôi dưỡng hành giả. Nghi thức cúng ngọ có âu “nhược phạn thực thời, đương nguyện chúng sanh, thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn” (khi dùng cơm, nguyện cho mọi người biết lấy niềm vui của thiền tập làm thức ăn và niềm vui do chánh pháp đem lại được tròn đầy). Dưới đây là chi tiết bài tập:

1. Thở vào, tâm tĩnh lặng                                  Tĩnh Lặng

Thở ra, miệng mỉm cười                                     Mỉm Cười

2. Thở vào, an trú trong hiện tại                   Hiện Tại

Thở ra, giây phút đẹp tuyệt vời                    Tuyệt Vời

Nhiều người bắt đầu thực tập thiền bằng bài tập này. Có nhiều người dù đã thực tập bài tập này trong nhiều năm vẫn còn tiếp tục thực tập, bởi vì nó tiếp tục đem tới nhiều lợi lạc cho hành giả.

Thở vào, ta chú ý tới hơi thở: hơi thở vào tới đâu ta cảm thấy tĩnh lặng tới đó, giống như khi ta uống nước mát; nước tới đâu thì ruột gan ta mát tới đó. Trong thiền tập, hễ tâm tĩnh lặng thì thân cũng tĩnh lặng, bởi vì hơi thở có ý thức đem thân và tâm vè một mối. Khi thở ra ta mỉm cười, để thư giãn tất cả các bắp thịt trên cơ mặt (có khoảng ba trăm bắp thịt trên mặt ta). Thần kinh ta cũng được thư giãn khi ta mỉm cười. Nụ cười vừa là kết quả của sự tĩnh lặng do hơi thở đem lại, mà cũng là nguyên nhân giúp ta trở nên thư thái và cảm thấy sự an lạc phát hiện rõ ràng thêm.

Hơi thở thứ hai đem ta về giây phút hiện tại, cắt đứt mọi rằng buộc với quá khứ và mọi lo lắng về tương lai, để ta có thể an trú trong giây phút hiện tại. Sự sống chỉ mặt trong giây phút hiện tại, vì vậy ta phải trở về giây phút hiện tại để tiếp xúc với sự sống. Hơi thở này giúp ta trở về sự sống chân thật. Biết mình đang sống và biết mình có thể tiếp xúc với tất cả mọi mầu nhiệm của sự sống trong ta và xung quanh ta. Đó là một phép lạ. Chỉ cần mở mắt hoặc lắng nghe là ta tiếp nhận được những mầu nhiệm của sự sống. Vì vậy cho nên giây phút hiện tại có thể là giây phút đẹp nhất và tuyệt vời nhất, nếu ta biết thực tập hơi thở thứ nhất nhiều lần trước khi đi sang hơi thở thứ hai.

Bài này có thể thực tập bất cứ ở đâu: trong thiền đường, trên xe lửa, trong nhà bếp, ngoài bờ sông, trong công viên, trong các tư thế đi, đứng, nằm ngồi và ngay cả lúc đang việc.

Trích Thích Nhất Hạnh, Sen Búp Từng Cánh Hé

Advertisements

Hiểu & Thương

buddhametta

Ảnh: crystalinks.com

HIỂU VÀ THƯƠNG

Hiểu và thương tuy hai chữ mà một ý.

Một buổi sáng kia, cậu con trai của bạn thức dậy thì thấy đã gần giờ đi học. Cậu liền đến đánh thức em gái của mình còn đang ngủ, để hai anh em có thể kịp ăn sáng trước khi đến trường.

Em bé ấy thay vì cám ơn lại gắt lên: “Đi đi! Kệ tôi!”

Cậu bé có thể đã nổi giận vì thái độ không dễ thương của em và có thể đi vào bếp để mách lại với bạn điều đó.

Nhưng cậu bé chợt nhớ rằng tối hôm qua em bé đã ho nhiều, chắc em đã bị sốt, không ngủ được, nên sáng nay mới khó chịu như vậy. Khi hiểu được điều đó, cậu bé không còn thấy giận em gái nữa.

Khi bạn đã hiểu, không thể nào mà bạn không thương. Và khó mà bạn có thể tiếp tục giận được.

Khi bạn đã hiểu thì bạn biết phải làm gì để người kia bớt đau khổ, bạn làm chuyện ấy rất tự nhiên không thấy cần phải cố gắng nhiều. Cho nên muốn hiểu sâu, ta nên tập nhìn mọi loài với con mắt từ bi.

TÌNH THƯƠNG CHÂN THẬT

Muốn thương ai, ta phải hiểu người đó. Nếu chỉ muốn chiếm hữu người đó làm của riêng thì đó chưa phải là thương. Ta không thể gọi đó là thương nếu ta chỉ biết lo cho ta, cho những nhu cầu của riêng ta còn những nhu cầu của người đó thì ta không hề để ý đến. Tình thương chân thật chỉ có khi ta thấy được những gì người thương ta cần hay không cần. Khi ta hiểu rõ ai, không thể nào mà ta không thương cho được. Lâu lâu ta nên ngồi sát cạnh người thương của ta, cầm tay người ấy và khẽ nói: ” Này em của anh, em có nghĩ là anh đã hiểu em chưa? Hay anh vẫn còn vụng về và làm cho em đau khổ? Hãy nói cho anh biết, bởi anh muốn thương em thật lòng!” Nếu ta thực tâm muốn tìm hiểu người thương thì giọng nói của ta sẽ biểu lộ sự quan tâm và người ấy sẽ mũi lòng.

Cánh cửa cảm thông đã mở, chuyện gì mà ta làm chẳng được.

Người ta đôi khi không có thì giờ hoặc không đủ cam đảm để hỏi con trai của mình những câu hỏi tương tự: “Con của ba, ba thương con, nhưng không biết ba đã hiểu được con chưa? “Ta phải có cam đảm đặt câu hỏi đó với con cái ta  nếu thương mà không hiểu, thì tình thương đó chưa đúng cách, trái lại càng thương ta càng làm cho người ta thương “bị thương”. Phải có hiểu mới có thương thật sự. Khi được hiểu, người được thương sẽ nở như một bông hoa.

Trích Thích Nhất Hạnh, An Lạc Từng Bước Chân

Metta Suttã – Kinh Từ Bi

ksyartsi289

Ảnh:usera.imagecave.com

The Buddha’s Teaching on Loving-kindness

This is the way of those who are skilled and peaceful, who seek the good and follow the path:

May they be able and upright, straightforward, of gentle speech and not proud.
May they be content and easy wherever they are.
May they be unburdened, with their senses calm.
May they be wise and not arrogant.
May they live without desire for the possessions of others.
May they do no harm to any living being.

May all beings be happy.
May they live in safety and joy.
All living beings, whether weak or strong, old or young, man or woman, smart or foolish, healthy or disabled, seen or unseen, near or distant, born or to be born, may they all be happy.

Let no one deceive or despise another being, whatever their status.
Let no one by anger or hatred wish harm to another.

As parents watch over their children, willing to risk their own lives to protect them, so with a boundless heart may we cherish every living being, bathing the entire world with unobstructed and unconditional loving-kindness.

Standing or walking, sitting or lying down, in each moment may we remain mindful of this heart and this way of living that is the best in all the world.

Kinh Từ Bi

Những ai muốn đạt tới an lạc thường nên học hạnh thẳng thắn, khiêm cung, biết sử dụng ngôn ngữ từ ái. Những kẻ ấy biết sống đơn giản mà hạnh phúc, nếp sống từ hòa, điềm đạm, ít ham muốn, không đua đòi theo đám đông. Những kẻ ấy sẽ không làm bất cứ một điều gì mà các bậc thức giả có thể chê cười.

Và đây là điều họ luôn luôn tâm niệm:

Nguyện cho mọi người và mọi loài đươc sống trong an toàn và hạnh phúc, tâm tư hiền hậu và thảnh thơi.

Nguyện cho tất cả các loài sinh vật trên trái đất đều được sống an lành, những loài yếu, những loài mạnh, những loài cao, những loài thấp, những loài lớn, những loài nhỏ, những loài ta có thể nhìn thấy, những loài ta không thể nhìn thấy, những loài ở gần, những loài ở xa, những loài đã sinh và những loài sắp sinh.

Nguyện cho đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng ai vì giận hờn hoặc ác tâm mà mong cho ai bị đau khổ và khốn đốn.

Như một bà mẹ đang đem thân mạng mình che chở cho đứa con duy nhất, chúng ta hãy đem lòng từ bi mà đối xử với tất cả mọi loài.

Ta hãy đem lòng từ bi không giới hạn của ta mà bao trùm cả thế gian và muôn loài, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, lòng từ bi không bị bất cứ gì làm ngăn cách, tâm ta không còn vương vấn một chút hờn oán hoặc căm thù. Bất cứ lúc nào, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, miễn là còn thức, ta nguyện duy trì trong ta chánh niệm từ bi. Nếp sống từ bi là nếp sống cao đẹp nhất.

Không lạc vào tà kiến, loại dần ham muốn, sống nếp sống lành mạnh và đạt thành trí giác, hành giả sẽ chắc chắn vượt thoát khỏi tử sinh.

(Nghe nhạc kinh tại đây.)

Chú Thích:

Mettã sutta với bản Việt dịch nêu trên của Thầy Nhất Hạnh do Làng Mai Pháp Quốc xuất bản. Tựa kinh tiếng Việt do thầy dịch là “Kinh Thương Yêu”, tiếng Anh là “Sutra on Loving-kindness” tiếng Sanskrit là “Maitri sutta”, nhà học giả Edward Conze dịch là “Unlimited Friendliness”. Kinh này thuộc hệ Nguyên thủy.

Theo ngài Narada Thera trong quyển Đức Phật và Phật Pháp, bản Việt dịch của Phạm Kim Khánh thì “Phạn ngữ Mettã, dịch là “Tâm Từ”, và Mettã Sutta dịch là “Kinh Từ Bi”. “Mettã là cái gì làm cho lòng ta êm dịu, là tâm trạng của một người bạn tốt, là lòng ước mong chân thành cho tất cả chúng sinh đều được sống an lành vui vẻ.”

“So sánh tâm Từ với tình mẫu tử trong kinh Từ Bi, Đức Phật không đề cập đến lòng trìu mến thương yêu (passionate love) ít nhiều vị kỷ của người mẹ. Đức Phật chỉ nhằm vào sự mong mỏi chân thành của bà mẹ hiền muốn cho đứa con duy nhất của mình được sống an lành. Trìu mến thương yêu đem lại phiền não. Tâm từ chỉ tạo an lành hạnh phúc. “Đây là một điểm tế nhị mà ta không nên hiểu lầm. Cha mẹ thương yêu, trìu mến con, con thương yêu cha mẹ, chồng thương yêu vợ, vợ thương yêu chồng. Tình luyến ái giữa những người thân yêu là lẽ thường, là một sự kiện tự nhiên. Thế gian không thể tồn tại được nếu không có tình thương. Nhưng tình thương luôn luôn ích kỷ, hẹp hòi, không so sánh được với tâm Từ là tình thương đồng đều đối với tất cả chúng sinh trong vũ trụ bao la. Do đó tâm Từ không đồng nghĩa với tình thương yêu ích kỷ.

“Tâm từ (mettã) không phải sự yêu thương xác thịt, cũng không phải lòng luyến ái đối với người nào. Tình dục và luyến ái là nguồn gốc của bao điều phiền não.

“Tâm từ cũng không phải là tình thương riêng biệt đối với người láng giềng, bởi vì người có tâm từ không phân biệt người thân kẻ sơ.

“Tâm từ không phải chỉ là tình huynh đệ rộng rãi giữa người và người, mà phải bao trùm tất cả chúng sinh, không trừ bỏ một sinh vật nhỏ bé nào, bởi vì loài cầm thú, các người bạn xấu số của chúng ta, cũng cần nhiều đến sự giúp đỡ và tình thương của chúng ta.

“Tâm từ cũng không phải là tình đồng chí, không phải tình đồng chủng, không phải tình đồng hương, cũng không phải tình đồng đạo.

“Tâm từ êm dịu vượt hẳn lên trên các thứ tình hẹp hòi ấy. Phạm vi hoạt động của tâm Từ không bờ bến, không biên cương, không hạn định. Tâm Từ không có bất luận một loại kỳ thị nào. Nhờ tâm Từ mà ta có thể xem tất cả chúng sinh là bạn hữu, và khắp nơi trên thế gian như chỗ chôn nhau cắt rún.

“Tựa hồ như ánh sáng mặt trời bao trùm vạn vật, tâm Từ cao thượng rải khắp đồng đều phước lành thâm diệu cho mọi người, thân cũng như sơ, bạn cũng như thù, không phân biệt giầu nghèo, sang hèn, nam nữ, hư hèn hay đạo đức, người hay thú.

“Người thực hiện tâm Từ đến mức cùng tột sẽ thâý mình đồng hoá với tất cả chúng sinh, không còn sự khác biệt giữa mình và người. Cái gọi là “ta” lần lần mở rộng lan tràn cùng khắp càn khôn vạn vật. Mọi sự chia rẽ đều tiêu tan, biến mất như đám sương mờ trong nắng sáng. Vạn vật trở thành một, đồng thể, đồng nhất. [Đức Phật và Phật Pháp, trang 584-588]

Khác Biệt Giữa Mật Tông Hindu & Mật Tông Phật Giáo

untitled

Ảnh: sanatansociety.com

Osho ơi, liệu có khác biệt gì giữa cách tiếp cận của Shiva và Saraha đối với Mật tông không?

Không thực sự, không bản chất. Nhưng khi có liên quan tới hình dạng thì có. Tôn giáo khác biệt chỉ ở hình dạng, tôn giáo khác biệt chỉ trong phương pháp luận của chúng. Tôn giáo khác biệt khi có liên quan tới cánh cửa đi vào điều thiêng liêng, nhưng không khác biệt về sự tồn tại. Và chỉ có hai khác biệt hình dạng cơ bản: đó là con đường của thành tâm, cầu nguyện, tình yêu; và con đường của thiền, nhận biết. Hai khác biệt cơ bản này cứ còn dai dẳng.

Cách tiếp cận của Shiva là cách tiếp cận của thành tâm; nó là cách tiếp cận của lời cầu nguyện, của tình yêu. Cách tiếp cận của Saraha là cách tiếp cận của thiền, nhận biết. Sự phân biệt vẫn là hình thức, bởi vì khi tình nhân và thiền nhân đạt tới thì họ đều tới cùng đích. Mũi tên của họ được buông ra từ những góc khác nhau, nhưng chúng đều đạt tới cùng mục tiêu. Mũi tên của họ được buông ra từ những cánh cung khác nhau, nhưng chúng đều đạt tới cùng mục tiêu. Cung không phải là vấn đề chung cuộc. Kiểu cung nào bạn chọn không thành vấn đề nếu mục tiêu được đạt tới. Đây là hai cây cung bởi vì con người về cơ bản bị phân chia thành hai loại: suy nghĩ và cảm giác. Hoặc bạn có thể tiếp cận thực tại qua suy nghĩ hoặc bạn có thể tiếp cận thực tại qua cảm giác.

Cách tiếp cận của Phật tử – cách tiếp cận của Phật và Saraha – là qua thông minh. Về cơ bản thông qua tâm trí mà Saraha chuyển động. Tất nhiên tâm trí phải bị bỏ lại đằng sau, nhưng chính tâm trí là cái phải bị bỏ lại đằng sau. Dần dần tâm trí phải biến mất vào trong thiền, nhưng chính tâm trí là cái phải biến mất; chính suy nghĩ là cái phải được biến đổi, và trạng thái vô ý nghĩ phải được tạo ra. Nhưng bạn hãy nhớ: nó là trạng thái vô ý nghĩ, và điều đó có thể được tạo ra chỉ bằng việc vứt bỏ dần các ý nghĩ, dần dần. Cho nên toàn bộ công việc bao gồm trong phần suy nghĩ.

Cách tiếp cận của Shiva là cách tiếp cận của cảm giác, của trái tim. Cảm giác phải được biến đổi. Tình yêu phải được biến đổi để cho nó trở thành lời cầu nguyện. Theo cách của Shiva, người thành tâm và thượng đế vẫn còn, bhakta và bhagwan vẫn còn. Tại đỉnh tối thượng họ cả hai biến mất vào lẫn nhau. Bạn hãy lắng nghe điều đó thật cẩn thận: khi Mật tông của Shiva đạt tới cực thích tối thượng của nó, thì ta tan biến vào trong người, và người tan biến vào trong ta; họ cả hai cùng nhau, họ trở thành một đơn vị.

Khi Mật tông của Saraha đạt tới đỉnh tối thượng của nó, thì nhận biết là: bạn không là phải, bạn không là đúng, bạn không tồn tại, mà cả tôi cũng không; cả hai biến mất. Hai số không, hai không gian trống rỗng tan biến vào lẫn nhau… bởi vì toàn bộ nỗ lực trên con đường của Saraha là làm sao tan biến ý nghĩ, và ta và người đều là các phần của ý nghĩ. Khi ý nghĩ hoàn toàn biến mất, thì làm sao bạn có thể gọi bản thân mình là tôi? Và bạn sẽ gọi ai là Thượng đế của mình? Thượng đế là một phần của ý nghĩ; đó là sự sáng tạo ý nghĩ, một kết cấu ý nghĩ, một kết cấu tâm trí. Cho nên tất cả các kết cấu tâm trí đều tan biến và shunya, sự trống rỗng, nảy sinh.

Trên con đường của Shiva bạn không còn yêu hình dạng, bạn không còn yêu con người – bạn bắt đầu yêu toàn thể sự tồn tại. Toàn thể sự tồn tại trở thành người của bạn; bạn được toàn thể sự tồn tại nhắm tới. Tính sở hữu bị vứt bỏ, ghen tị bị vứt bỏ, hận thù bị vứt bỏ; tất cả những điều tiêu cực trong cảm giác đều bị vứt bỏ, và cảm giác trở thành ngày một thuần khiết hơn. Một khoảnh khắc tới khi có tình yêu thuần khiết. Trong khoảnh khắc tình yêu thuần khiết đó, bạn tan biến vào trong người và người tan biến vào trong bạn. Bạn cũng biến mất, nhưng bạn biến mất không giống như hai số không; bạn biến mất như người được yêu biến mất vào trong người yêu và người yêu biến mất vào trong người được yêu.

Cho tới điểm này họ vẫn khác nhau, nhưng điều đó nữa cũng là khác nhau về hình dạng. Bên ngoài điều này, có thành vấn đề gì dù bạn biến mất như người yêu và người được yêu, hay bạn biến mất như hai số không? Điểm cơ bản, điểm nền tảng là ở chỗ bạn biến mất, ở chỗ chẳng cái gì còn lại, ở chỗ chẳng dấu vết nào còn lại. Sự biến mất đó là chứng ngộ.

Cho nên bạn phải hiểu điều đó: nếu tình yêu hấp dẫn bạn, thì Shiva sẽ hấp dẫn bạn, và Sách Về Các Bí Mật (The Book of Secrets) sẽ là kinh thánh Mật tông của bạn. Nếu thiền hấp dẫn bạn, thế thì Saraha sẽ hấp dẫn bạn. Điều đó tuỳ thuộc vào bạn. Cả hai đều phải, cả hai đều đi tới cùng cuộc hành trình. Bạn muốn du hành cùng ai, đấy là sự chọn lựa của bạn. Nếu bạn có thể một mình và phúc lạc, thế thì Saraha… Nếu bạn không thể phúc lạc khi bạn một mình, và phúc lạc của bạn tới chỉ khi bạn có quan hệ, thế thì Shiva. Đây là sự khác biệt giữa Mật tông Hindu và Mật tông Phật giáo.

Nguồn: thiencungyoga.edu.vn

Kinh Người Biết Sống Một Mình

alone_but_HAPPY_by_IgNgRez

Ảnh: deviantart.com

Nghe tại đây

Đừng tìm về quá khứ

Đừng tưởng tới tương lai

Quá khứ đã không còn

Tương lai thì chưa tới

Hãy quán chiếu sự sống

Trong giờ phút hiện tại

Kẻ thức giả an trú

Vững trãi và thảnh thơi.

Phải tinh tiến hôm nay

Kẻo ngày mai không kịp

Cái chết đến bất ngờ

Không thể nào mặc cả.

Người nào biết an trú

Đêm ngày trong chánh niệm

Thì Mâu Ni gọi là

Người Biết Sống Một Mình.

Nguồn: langmai.org

Nên Thánh

jesus15

Ảnh: gxdaminh.net

Nên thánh là một trong những chủ đề mà bất cứ một ai lên đường tìm kiếm Chúa cũng phải quan tâm và chắc chắn phải trải qua nhiều ngày đêm khắc khoải, suy tư, trăn trở để tìm ra ý nghĩa đích thực của việc nên thánh này. Thực vậy, bản thân tôi cũng đã dành thời gian hàng năm trời miên man suy tư về chủ đề nghe có rất quen nhưng cũng rất đỗi hóc búa này.

Tôi xin chia sẻ con đường nên thánh của tôi, dựa vào lời tông thư của Đức Gioan Phaolô II: «Đừng hiểu lầm về lý tưởng trọn lành này như thể đời sống thánh thiên đòi hỏi phải có một cuộc sống phi thường mà chỉ vài người xuất chúng mới đạt được.

Đường nên thánh thì có nhiều và thích hợp với ơn gọi của từng người.

Tiến trình nên thánh là một tiến trình cá nhân, đòi hỏi phải có một sư phạm đúng đắn về sự thánh thiện, để có thể thích nghi với nhịp sống của từng người»

Quả thật, đường nên thánh thì có nhiều và tiến trình nên thánh là một tiến trình cá nhân với sự nâng đỡ của nhiều yếu tố: sức mạnh của Chúa, các bí tích, cộng đoàn, gia đình…nhưng tiến trình cá nhân nên thánh là một yếu tố quan trọng nhất. Muốn nên thánh, chính tôi phải cố gắng, phải nỗ lực, phải kiên trì, phải quyết tâm, phải xác tín…

Tôi xin chia sẻ quá trình nên thánh của tôi, có thể nó hơi lạ, thậm chí một số người còn cho là rất khác lạ. Nhưng dù sao tôi cũng xin trình bày như một việc chia sẻ đời sống mà nhiều cộng đoàn đang thực hiện.

Quá trình nên thánh của tôi có thể chia làm 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Ai sao tôi vậy

Nên thánh là một điều không tưởng vì tôi thấy mình yếu đuối, phàm hèn, tội lỗi. Tương quan giữa Chúa và tôi luôn có một bức tường ô nhục ngăn cách thánh – phàm. Giỏi lắm là vào những dịp tĩnh tâm mùa Vọng hay mùa Chay, tôi mới cảm thấy có vẻ hơi gần Chúa được một chút. Nhưng rồi những lời kêu gọi sửa đuờng lối Chúa chưa kịp uốn cho ngay thẳng và lời kêu gọi sám hối chưa kịp ăn năn dốc lòng chừa thì mùa Giáng Sinh rộn rã, mùa Phục Sinh từng bừng đã cuốn phăng đi tất cả và con người cũ của tôi đã vội vã quay về với mùa thường niên chảy trôi theo nhịp bình thường đều đều. Ai sao tôi vậy. Amen. Lời Đức Giêsu nhắn nhủ: «Anh em hãy nên trọn lành như Cha của anh em trên trời» – tôi nghĩ chỉ để lộng kính cho vui rồi đặt lên nơi thật cao trên bàn thờ để hù ma thiên hạ.

Giai đoạn 2: Miên man suy tư về nên thánh

Suốt một năm trời ròng rã, tôi đã tự đặt cho mình những câu hỏi và tự mày mò, tìm kiếm câu trả lời

1. Muốn nên thánh tôi phải làm gì?

Tôi đã tham dự thánh lễ (chủ yếu là xem) và rước lễ (chứ không phải rước Chúa) khoảng 7000 lần, thế mà sao tôi vẫn không thánh thiện hơn chút nào. Lẽ ra mỗi lần rước Chúa tôi có thể gần Chúa thêm 1 milimet và như vậy tôi đã gần Chúa được 7 mét. Ấy thế mà không phải, dường như càng lớn tôi lại càng xa Chúa hơn với cả ngàn thứ lo toan trong cuộc sống.

Tôi phải đọc kinh ư? Tôi cảm thấy đọc kinh có phẩn máy móc, đọc cho có lệ.

Làm việc lành phúc đức ư? Chúa đâu chẳng thấy ngoài cái thằng tôi đang thầm tự hào về những việc đạo đức hay những việc thi ân làm phúc cho người khác.

Tóm lại, tôi đã làm hết cách nhưng tất cả đều không giúp tôi thánh thiện hơn. Và bức tường ngăn cách của tôi với Chúa dường như ngày càng cao hơn, càng dầy hơn, dường như không cách nào phá nổi.

Như thế tôi có thể kết luận: Vấn đề nên thánh không lệ thuộc vào các việc tôi phải làm, cho dù đó toàn là những việc đạo đức.

2. Vậy việc nên thánh dựa trên nền tảng nào?

Để tìm ra câu trả lời hóc búa này, tôi bắt đầu chúi mũi vào nghiên cứu Kinh Thánh. Vào năm 1985, sách Kinh Thánh còn hiếm hoi. Tôi dùng cuốn «Tin Mừng về Chúa Cha» của linh mục Ansơn Vị và bộ «Kinh Thánh» của linh mục Nguyễn Thế Thuấn. Tôi đọc thật kỹ, ghi chép những câu tâm đắc vào sổ và miệt mài suy tư trong nỗi khắc khoải canh trường. Cuối cùng tôi đã khám phá ra bản chất của việc nên thánh.

Thì ra nó đơn giản như một bài tính nhân 2 lần 5 là 10. Đây là một vài điều tôi khám phá ra:

Bản chất tôi vốn là thánh, thế mà tôi cứ phải mãi loay hoay kiếm tìm.

Tôi xin khởi đi từ kinh nghiệm của thánh Phao lô: một con người nhiệt thành, đã từng hăng hái bách hại những người Kitô hữu nguyên thuỷ. Thế mà sau biến cố Damas, ngài đã tập sống theo đức Kitô, cuối cùng ngài cũng đã khám phá ra rằng: «Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người» (Ep 1,4).

Trong câu này có một điều làm tôi thích thú vô cùng. Đó là tôi vốn thánh thiện và tinh tuyền trước cả khi tạo thành vũ trụ. Chứ không phải do công sức tôi gồng mình làm những việc lành phúc đức, mà chính là nhờ tình thương của Người.

Thêm vào đó, tôi còn nhớ rất rõ cảm nghiệm của ngôn sứ Giêrêmia:

«Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân» (Gr 1,5).

Rõ ràng tôi vốn là thánh trước khi tôi lọt lòng mẹ vì chính Chúa đã thánh hoá tôi – tôi hoá thành thánh ngay từ lúc tôi chưa hề biết gì.

Trở về thời khởi nguyên, tôi biết rằng con người tôi là hình ảnh Thiên Chúa, tràn đầy sự sống Thiên Chúa qua việc Ngài thổi hơi sự sống thần linh của Ngài.

Tóm lại tôi có thể tuyên bố rằng con người tôi vốn là thánh thiện từ đầu đến chân, ngay từ trong lòng mẹ.

Ngoài ra thánh Phêrô còn giúp tôi xác tín hơn qua thư thứ 2: «Anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa» (2Pr 1,4).

Cho tới đây thì mọi sự quá rõ ràng:

Con người tôi vốn là thánh vì

được mang hình ảnh Thiên Chúa,

được tràn đầy sự sống thần linh của Ngài

và được thực sự thông phần bản tánh của Ngài.

Còn gì tuyệt vời hơn nữa đây!!!

Nói thì dễ như ăn cơm sườn, nhưng để nhận ra điều này, tôi đã phải miên man suy tư cả năm trời mới tìm được 3 viên ngọc Lời Chúa trên đây.

Có thể nói đây là cuộc cách mạng nội tâm vĩ đại, đánh tan quá khứ mặc cảm tội lỗi, yếu hèn, bất xứng.

Đây cũng chính là sám hối – Metanoia – thay đổi não trạng,

giã từ con người cũ mặc con người mới – người con yêu dấu của Chúa.

Giai đoạn 3: Kinh nghiệm chập chững trên bước đường nên thánh

Nhận ra mình là con người mới – con người vốn là thánh, vốn là con yêu dấu của Ngài đă là một cuộc cách mạng cam go Thực vậy, không dễ gì từ bỏ được quan niệm đã in sâu vào trí óc mình suốt 35 năm trời. Rất nhiều người vẫn còn luẩn quẩn trong ngục tù mặc cảm yếu hèn, tội lỗi, nên khó có thể thoát ra được.

Thay đổi quan niệm mới rồi, tôi lại phải đối đầu với một khó khăn thứ hai: đó là làm sao áp dụng được vào trong đời sống thực tế hàng ngày của mình.

Tôi khởi đầu bằng những buổi ngồi một mình, nhìn ngắm con người mình, tâm hồn mình và thì thầm một câu tâm niệm như: Chúa thấm nhập con, con thấm nhập Chúa. Tôi còn sáng tác một vài câu khác nữa. Lúc đầu, chẳng thấy gì, nhưng chừng vài tuần sau, tôi thấy dường như Chúa ở trong tôi bắt đầu thức dậy sau một giấc ngủ dài 35 năm.

Khi một mình chạy xe đạp hay xe Honda, lúc nào nhớ, tôi tập sống trong sự kết hợp âm thầm: Ngài đang lái qua đôi tay của tôi. Càng kết hiệp với Ngài, tôi càng lái xe tỉnh táo, tâm hồn nhẹ nhàng, hân hoan. Những lần tỉnh thức như vậy chỉ kéo dài chừng vài phút.

Cả khi tắm, tôi cũng thường cảm nhận Ngài cùng kì cọ và thưởng thức những dòng nước mát chảy khắp thân mình.

Trong khi làm bất cứ việc gì, tôi thỉnh thoảng dừng lại một vài phút để cảm nhận sự hiện diện sống động của Ngài trong tôi. Theo tôi, đó là nhưng giây phút sống thánh, sống tỉnh thức, sống kết hợp với Chúa, sống dạo. Ngôn từ tuy nhiều, nhưng tất cả chỉ để diễn tả một trạng thái duy nhất – đó là tôi cảm nhận được hương vị ngọt ngào của bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.

Để minh họa thêm, tôi xin kể một câu chuyện có thật ngay trong gia đình tôi.

Sau một tuần tĩnh tâm, bà xã tôi về nhà, tâm hồn hân hoan bay bổng, lâng lâng siêu thoát trong hạnh phúc bồng bềnh.

Vợ tôi chân thành chia sẻ: Em đang cảm thấy thánh thiện quá, vậy chuyện vợ chồng thì tính sao đây?

Tôi hỏi nàng: Này em thân yêu, trong thân xác em có một chỗ nào đó mà Chúa sợ quá, không dám cai quản, mà để cho Satan chiếm cứ và làm rối tung cả lên không?

Cô nàng khựng lại, suy nghĩ mông lung mà vẫn chưa tìm được câu trả lời. Tôi hỏi tiếp:

Em nhớ lại đi thân xác mình là đền thờ của Thánh Thần mà. Thánh Thần Chúa thấm nhập từng tế bào thân thể ta làm cho toàn thân ta thánh thiện và tinh tuyền. Còn chuyện kết hợp vợ chồng thì anh em mình vừa kết hợp nên một xương một thịt mà cùng lúc đó kết hợp nên một trong Thần Khí của Ngài. Chúa trong em, Chúa trong anh, như thế chính Thánh Thần tình yêu nối kết vợ chồng ta nên một với nhau. Chúng ta vừa kết hợp trong thân xác vừa hoan lạc trong Thần Khí tình yêu của Ngài. Thánh ở chính chỗ đó, em hiểu chứ?

Thế là cô nàng mỉm cười hân hoan, lòng nhẹ nhàng như cất đi một gánh nặng ngàn cân.

Một câu hỏi phụ: Nếu đã nhận ra mình vốn là thánh thì cần gì phải đọc kinh, tham dự thánh lễ, rước Chúa???

Ấy, như chúng tôi đã nói: Nhận ra mình là thánh là một bước khởi đầu vô cùng quan trọng

Nhưng để sống thánh là cả một chuỗi ngày tiến tới không ngừng cho tới suốt đời.

Như thế, chúng tôi vẫn đọc kinh trong tâm tình hiệp nhất và cầu nguyện với anh em.

Chúng tôi vẫn tham dự Thánh Lễ với tinh thần tích cực, đặc biệt là lắng nghe Lời Chúa và hòa theo tâm tình những Lời Nguyện của chủ tế.

Rước Chúa là thời gian cô đọng để nghe sự sống của Chúa lưu chuyển trong toàn thân mình..để chìm vào trong sự kết hiệp thâm sâu với Chúa ngay trong lòng mình.

Cuối cùng, để cuộc sống đạo ngày càng xác tín hơn, hạnh phúc hơn, bình an hơn.

Tóm lại, sống thánh không lệ thuộc vào những việc bên ngoài, nhưng hoàn toàn lệ thuộc vào niềm xác tín với tâm tình bên trong. Xin Quý Vị lưu ý rằng: Nói như thế không có nghĩa là tôi luôn luôn thực hiện được cuộc sống thánh này liên tục suốt cả ngày.

Quả thật thời gian đầu cực kỳ khó khăn. Mỗi ngày sống kết hiệp với Chúa được 5 phút là may lắm rồi. Rồi từ năm này sang năm khác, thấm thoát đã gần 20 năm. Thời gian sống với Chúa trong một ngày càng tăng lên và càng dễ dàng hơn.

Để kết thúc bài viết cô đọng này, tôi xin trở lại tông thư của Đức Gioan Phaolô II ở phần nhập đề:

«Đừng hiểu lầm về lý tưởng trọn lành này như thể đời sống thánh thiện đòi hỏi phải có một cuộc sống phi thường mà chỉ vài người xuất chúng mới đạt được».

Đường nên thánh thì có nhiều và thích hợp với ơn gọi của từng người.

Tiến trình nên thánh là một tiến trình cá nhân, đòi hỏi phải có một sư phạm đúng đắn về sự thánh thiện, để có thể thích nghi với nhịp sống của từng người».

Khổng Đức Nhuận

Nguồn: tamlinhvietnam.net

Tứ Diệu Đế – Nguyên Tắc Trị Liệu Của Y Khoa

thichthanhtu-1Ảnh: giacngo.vn

Trong mỗi chúng ta đều có hạt giống của tài năng, của tình thương và của hạnh phúc. Nếu các hạt giống ấy được nuôi dưỡng, được tưới tẩm hằng ngày thì không những mình có được hạnh phúc mà còn mang lại hạnh phúc cho người khác. Tuy vậy, ta nên biết, bên cạnh những hạnh phúc, ta vẫn còn có những khó khăn, những khổ đau trong thân tâm. Ta cần để thời gian để nhìn lại chúng, để gọi tên chúng và để công nhận sự có mặt của chúng. Ta không được đè nén hay trốn chạy chúng. Nỗi khổ niềm đau ấy có thể là do cha mẹ, tổ tiên của ta trao truyền lại. Nếu chúng ta gọi được tên của những nỗi khổ niềm đau, chúng ta sẽ cảm thấy rất khỏe. Sở dĩ, chúng ta còn khổ bởi chúng ta chưa chịu công nhận những nỗi khổ niềm đau của mình. Có công nhận chúng thì mới có cơ hội tính đến chuyện chuyển hóa chúng.

Đối với những người thương của mình, những người sống xung quanh mình, mình cũng cần quán chiếu để thấy được những khó khăn, những yếu kém, những khổ đau của họ. Bởi vì khó khăn của họ có ảnh hưởng đến hạnh phúc của chính chúng ta. Thật vậy, nhiều người đã không biết cách xử lý những khổ đau của chính họ nên không những họ tự gây khổ đau cho mình mà còn làm khổ người khác. Chúng ta phải thấy được, những người ấy rất đáng thương. Vì họ cũng chỉ là nạn nhân của những những tập khí xấu được trao truyền từ  ông bà tổ tiên qua nhiều thế hệ. Nếu thấy được nguyên nhân và gốc rễ của những khó khăn nơi người kia thì mình sẽ chấp nhận được họ mà không gây áp lực, không đòi hỏi sự thay đổi nơi họ, ngược lại còn giúp họ chuyển hóa những yếu kém ấy. Sự chấp nhận này được để thể hiện bằng chất liệu từ bi qua cách nói, cách nhìn của mình đối với người ấy. Chính sự chấp nhận đó mới có khả năng mang lại sự thay đổi nơi chính mình và nơi người khác.

Tuy nhiên, muốn giúp được người, trước tiên cần làm hòa, cần chấp nhận những khổ đau và yếu kém của chính bản thân mình. Mình có thể viết một lá thư chia sẻ những nỗi khổ niềm đau của mình với người kia. Trong thư cần nêu được nguyên nhân nào đã đưa đến những khổ đau nơi mình. Rồi mình giúp người kia quán chiếu những khổ đau của chính họ.

Các bác sĩ tâm lý trị liệu có nhiệm vụ giúp đỡ các bệnh nhân thấy được nguyên nhân dẫn đến khổ đau. Tuy nhiên, bác sĩ tâm lý trị liệu cũng phải hiểu được nỗi khổ niềm đau của chính họ, phải biết được gốc rễ đã đưa đến những nỗi khổ niềm đau ấy. Tóm lại, cả hai –bệnh nhân và bác sĩ đều phải làm việc. Họ phải thực tập như một Phật tử, là xác nhận khổ đau của mình đang có mặt. Có chấp nhận những khổ đau ấy có mặt thì mới có cơ hội tìm đến được gốc rễ của những khổ đau ấy, đó là tập đế. Khi biết được nguyên nhân của những khổ đau, mình sẽ có con đường để chuyển hóa, để trị liệu chúng, đó là đạo đế. Một bác sĩ y khoa cũng nên thực tập theo phương pháp Tứ Diệu Đế. Vì Tứ Diệu Đế là linh dược trị khổ đau.

Thích Nhất Hạnh

Nguồn: Langmai.org