Lời Của Dòng Sông

MoonRiver_ouellet_f

Ảnh: apod.nasa.gov

Cũng có lúc dòng sông cạn. Nhưng chẳng vì thế mà dòng sông lo âu, rồi toan tính giữ nước cho mình.. Từ ngày quá khứ, xuôi nguồn vào tương lai, nước làm thành dòng sông chứ không phải dòng sông làm nên nước. Từ ý nghĩ đó, dòng sông vào đời tự do theo ơn gọi của nó.

Đặt cuộc đời trước dòng sông. Ta xin dòng sông cho cuộc đời một lần nhìn rõ mặt mình trong ý nghĩ ấy.

Vào mùa nước lũ, dòng sông đưa nước xuôi đồng bằng. Mênh mông chân trời khi bình minh rải ánh sáng. Lấp lánh rừng bạc vào mùa trăng thượng tuần huyền ảo. Lấp lánh rừng bạc vào mùa trăng tuần huyền ảo. Thế nhưng, tháng hạ nắng hanh, dòng sông vơi dần. Nước cạn cho phơi bờ cát lở. Trong đời sống, có những khúc sông cuộc đời mà tháng ngày sóng nước chơi vơi. Cũng trong đời sống, không vắng những mùa khô cạn nước. Cuộc sống của ai cũng vậy thôi, hễ có ngày sai mùa trái chín, thì cũng có những ngày khô khan lá rơi. Có những mảnh đời ngheo khổ và cũng có những khúc đường đầy đủ. Lúc vơi bờ cát lở là khi túng thiếu đưa gian nan chín tới, là lúc buồn bã gọi lòng trống trải đi về.

Xin Thượng Đế cho con hiểu rằng nếu dòng sông vì lo âu mùa nắng mà dừng lại, tích nước mùa mưa thì dòng sông hết là dòng sông mất rồi. Nó chỉ là dòng sông khi chảy xuôi nguồn. Ngày nào con băn khoăn bắt dòng sông cuộc đời ngưng trôi chảy trong hồn, ngày đó cuộc đời thành ao tù.

Buồn làm sao những mảnh đời ứ đọng, không có niềm vui xuôi nguồn nhân gian. Dòng sông trở nên hoang vu trong cái ứ đầy của mình.

Xin Thượng Đế cho con biết nhận thì cũng biết cho đi. Chính lúc nghèo túng là lúc con biết rõ tâm hồn mình có độ lượng, bao dung hay không.

Dòng sông không gian tham. Nó biết nó chỉ là dòng sông khi trời cho nước. Nó không băn khoăn vào mùa nắng hạn. Nó chẳng tự phụ khi dòng nước dâng. Nước làm nên dòng sông. Biết mình tuỳ thuộc vào dòng nước, con sông bình an xuôi dọc thời gian.

Như nước đưa dòng sông thành nguồn, ơn sủng  trời cao đưa con người vào đời. Dòng sông không bao giờ tham lấy nước của dòng sông khác. Nó dâng vui khi nước nguồn đổ tới. nó thong thả khi nguồn nước nghỉ ngơi.

Nếu con người biết những gì mình có trong đời là do ơn sủng trời cao, như dòng sông biết nước đưa mình vào đời chứ không phải tự mình, thì con người sẽ nhận dự sống từ trời bằng bàn tay an nhiên. Con người phải vào đời bình an như dòng sông, không so sánh nhỏ nhen, không nghen tức.

Xin Thượng Đế cho con biết con tuỳ thuộc vào Ngài, con sống bởi ơn sủng của Ngài. Khio con hiểu ơn sủng của Ngài đưa con vào đời như nước làm thành dòng sông thì con hiểu tình yêu là sức mạnh chứ không phải lấy sức mạnh tạo dựng tình yêu.

Vì ngỡ sức mạnh tạo dựng giá trị nên con mới tích luỹ để chiếm đoạt. Có những tích luỹ bằng uy thế, bằng sắc đẹp, bằng địa vị, bằng đam mê. Gía trị đời con là sống như dòng sông, xuôi nguồn mùa nước lớn, thong thả mùa nước khô. Bởi, con biết giá trị cuộc sống là sống trọn ơn gọi trong hoàn cảnh Ngài tặng riêng con.

Dòng sông không ngừng lại nên sự sống của dòng sông chính là từ giã không ngừng. Cuộc đời cũng thế thôi, là trôi chảy.

Con người không chấp nhận biệt ly. Bởi đó, sự bám giữ của con người đã đưa dòng sông cuộc đời mình thành sóng đổ. Một ngày nào rồi cũng giã từ tuổi thơ vào đời. Bờ đê nhỏ. Mái nhà xưa. Rồi cũng bỏ đi xa. Cho dù tuổi thơ có là êm đềm. Rồi lớn lên ta cũng buông cánh theo gió mà ra khơi. Cứ như thế cho đến ngày ta gặp gỡ tình yêu đầu đời. Thoáng hương có mật ong say, có hơi thở ấm. Rồi cũng đến ngày hơi thở thì dài và mật ong thì phai. Sống là chấp nhận chia ly không ngừng. Ngày nào ta bám víu lại không cho dòng sông chảy xuôi là ngày hồn ta quằn quại.

Xin Thượng Đế cho con đừng bị ràng buộc vào những bờ đất. Bởi dòng sông phải buông mờ mà đi. Ngày nào dòng nước dừng lại, lưu luyến một bến bờ nào đó, nó chỉ là tàn phá nhau thôi. Nước thành sóng và bờ tan hoang. Chẳng nói chỉ vật chất, ngay những giá trị tinh thần như tình yêu, tình bạn, lòn  g nhiệt thành, con cũng phải buông cánh cho trôi theo dòng đời. Những giá trị ấy không phải là cùng đích của  cuộc sống, nó phải dẫn con đến cuộc sống cùng đích sau cùng là gặp Chúa. Vì thế, con phải biết lúc nào buông cánh để đời nhẹ nhàng xuôi dòng.

Dòng sông luân chuyển không bao giờ ngừng nghỉ, nhưng có ngày chấm dứt. Đó là ngày dòng sông về với biển cả. Nó xuôi nguồn để tới cùng đích. Nó luôn luôn chảy, luôn luôn giã từ để tới nơi không còn từ giã.

Cuộc đời cũng thế thôi. Ta vào đời là xuôi dòng về với trùng khơi. Bởi đó, ta phải chấp nhận sự chết như một chờ mong. Bất cứ ràng buộc nào cũng gây khổ đau vì nó dồn sóng lại trên đường mà đáng lẽ phải êm ả buông rơi. Chết như một định luật tất yếu thì bám víu vào bờ cát trên dòng sông cuộc đời chỉ là cấu chặt vào một hư vô. Người yêu cũng là từ giã. Những thành quách ta xây cũng là giã từ. Bpửi đó, như dòng sông ta phải sẵn lòng nói lời ly biệt.

Xin Thượng Đế cho con can đảm nhìn cuộc đời bao dung để con bao dung với chính mình. Nếu con không bao dung với đời, lòng thèm muốn bảo con giữ chặt lại cho mình, của cải, quyền bính, danh vọng thì con chẳng bao dung với chính mình đâu. Con mất tự do mất rồi.

Dòng sông tự nó là chia ly đôi bờ. Những tình yêu phải xa nhau đã chẳng có tiếng thở dài về dòng sông đó sao. Ôi! Những dòng sông xa cách!

Như dòng sông tự nó chia ly, là trắc trở, con người cũng thế, ai cũng là gai nhọn cho nhau. Tự mình ai cũng là nghịch cảnh cho nhau. Bởi trong ta, ai không yếu đuối? Dòng nước làm chia ly, nhưng bên bờ sông cũng có những bến hẹn, bến mong cho con đò một chiều có nhau. Chia ly đôi bờ đã có những gặp gỡ. Cuộc đời cũng vậy thôi.

Xin Thượng Đế cho đời con là bến hẹn cho người hội ngộ để dòng sông nhìn hạnh phúc gặp nhau trên bến đê.

Người ta nhớ về những bến sông có kỷ niệm ngọt ngào. Tự con có thể là nghịch cảnh ngăn cách người với người, nhưng nhờ bờ sông, tự con cũng có thể là bến hẹn hoà giải gặp gỡ.

Như dòng sông hương hoa biết bao khi nghe tình yêu đi trên bờ đê của mình, thì đời con cũng thế thôi cuộc sống sẽ hạnh phúc hơn khi là bến cho niềm vui của thế nhân đỗ chân.

Khi dòng sông có cây cầu nối xa về gần thì bến sông có tình yêu về trên lối cỏ. Khi cây cầu đưa vắng mặt về sum họp thì bến sông có kỷ niệm hương hoa.

Đời người cũng thế thôi. Và cây cầu ấy chính là Thượng Đế. Xin dòng sông dạy tôi biết không có cầu Thượng Đế thì đời tôi có thể là chia ly cách biệt người với người. Nhưng có Ngài, ôi! Dòng sông đời sống sẽ đẹp biết bao.

Dòng sông đời ai có bến đỗ đem kỷ niệm êm đềm cho người khác, thì bến đỗ ấy cũng được ban tặng lại hạnh phúc do kỷ niệm êm đềm kia để lại. Vì hạnh phúc đậu trên bờ sông nào thì dấu thơm hạnh phúc ấy cũng lưu lại với chính bờ sông đó nữa.

Nguyễn Tầm Thường sj

Nguồn: dunglac.org

Advertisements

Tìm Về Nơi Nương Tựa Vững Chãi

0807chungtai_card_450

Ảnh: zendenver.org

Chánh niệm khơi nguồn giác tính

Trong bài tụng Ba sự quay về có đoạn: “Về nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người, thể nhận được giác tính sớm mở lòng bồ đề”. Từ giác tính trong đoạn này chính là phật tính – tức là khả năng giác ngộ nơi mỗi người. “Về nương Bụt trong con” có nghĩa là quay về nương tựa vào giác tính sẵn có nơi mỗi người. Điều này cũng cụ thể như việc ta có lá phổi, trái tim, đôi chân,…  và ta quay về nương vào chúng để sinh tồn vậy. Có nhiều người trong chúng ta có cảm giác bấp bênh, không vững chãi, chông chênh giống như là một chiếc thuyền không có neo, thành ra không buông neo được, không đứng yên được. Mỗi người đều có nhu yếu được nương tựa vào một nơi nào đó để có thể vững chãi hơn trong cuộc sống. Và ta đang kiếm tìm nó. Đạo Bụt không chủ trương nương tựa vào một đấng thần linh ở ngoài mà hướng dẫn ta quay về nương tựa nơi giác tính có sẵn trong ta – giác tính là khả năng tỉnh thức, khả năng nhận biết những gì đang xảy ra trong phút giây hiện tại. Chánh niệm là đầu giây mối nhợ của sự tỉnh thức; chánh niệm giúp ta biết được chuyện gì đang xảy ra.

Khi thở vào mà biết được ta đang thở vào thì ta đang có chánh niệm. Có chánh niệm là có giác tính. Chánh niệm với giác tính là một thứ. Bởi vì nếu mê mờ thì đâu biết cái gì đang xảy ra. Sự ý thức rõ ràng về hơi thở vào ra của chính mình là một năng lượng giác, và nó đích thực là Bụt. Bụt chính là hơi thở có chánh niệm. Khi thở, Bụt biết mình đang thở. Bụt thở rất khỏe, rất nhẹ nhàng, rất dễ chịu. Nếu thở vào, mình cũng thở có phẩm chất như Bụt thì lúc ấy mình đang có Bụt. Bởi vì Bụt cũng là một con người; nhưng Bụt có ý thức rõ ràng về từng hành động của chính mình, Bụt an trú được trong phút giây hiện tại, có mặt cho sự sống trong phút giây hiện tại, và không bị kéo theo những thói quen. Là học trò Bụt, mình phải có mong muốn làm được như Bụt: thở như Bụt, đi như Bụt, ngồi như Bụt… Sở dĩ, bước đi của Bụt có phẩm chất là vì có giác tính. Và cái thở, cái ngồi của Ngài cũng vậy. Mình có thể học cách thở, cách đi, cách ngồi… như Ngài. Nếu mình đi, thở, ngồi… được như Bụt thì lúc ấy, giác tính của mình đang biểu hiện. Nương tựa vào giác tính nghĩa là nương tựa vào hơi thở chánh niệm, bước chân chánh niệm, thế ngồi chánh niệm… Những điều này rất cụ thể, rất thực tế, không mơ hồ chút nào. Nếu thực tập giỏi, mình sẽ có được chỗ nương tựa trong hai mươi bốn giờ một ngày. Nhưng nên nhớ, hơi thở, bước chân, thế ngồi… phải thực sự có phẩm chất, có giác tính thì chúng mới trở thành nơi nương tựa của chúng ta.

Đến Làng Mai, mình thấy xung quanh mình ai cũng hết lòng thực tập, chính phẩm chất tu tập của tập thể đã tạo cho mình niềm tin là chính mình cũng có thể làm được. Nếu người khác ngồi có phẩm chất, có hạnh phúc, không lý nào mình lại không làm được như họ? Thực tập chung với tăng thân rất có lợi, sự thực tập của người này nâng đỡ sự thực tập của người kia, mình phải tận dụng cơ hội mỗi khi được tu chung với tăng thân để nâng cao phẩm chất tu tập của mình, để trong mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi thế ngồi đều có giác tính. Hai mươi bốn giờ mỗi ngày là tặng phẩm rất lớn, ta phải biết dùng nó cho đúng đắn, cho thích hợp, đừng để thời gian quý báu phí hoài trôi qua. Ta phải sử dụng thời gian thật khéo léo như một nghệ sĩ thì mới không đánh mất sự sống một cách oan uổng. Như vậy, rõ ràng, giác tính không nằm ở ngoài; nó nằm trong năm uẩn của mình. Muốn tìm Bụt chỉ cần tìm nơi hơi thở, bước chân, thế ngồi… có chánh niệm. Nương vào hơi thở có chánh niệm là nương tựa Bụt, là quy y Bụt. Bụt không phải là một đấng thần linh ở bên ngoài. Đến Làng Mai là cơ hội để chúng ta học thở, học đi, học ngồi… để tiếp xúc được với giác tính làm chỗ nương tựa cho chính mình.

Tăng Thân trong trái tim

Chúng ta đã đi lang bạt quá nhiều rồi. Chúng ta ước muốn có một nơi để quay về, để nương tựa, để có được sự bình an trong thân tâm. Chúng ta không nên tìm nơi nương tựa đó ở ngoài; hãy tìm nó ngay trong giây phút hiện tại, trong năm uẩn của mình. Các bậc hiền nhân đều biết được điều này: trở về và hiểu biết chính mình. Nhưng phần lớn chúng ta không thấy được như vậy nên đã thường xuyên hướng ngoại. Ở phương Tây, Giáng sinh là ngày mà người ta có khuynh hướng tìm về xum họp với gia đình; ở châu Á thì trong ngày tết Nguyên Đán dù đi đâu xa ai ai cũng phải thu xếp công việc để về đoàn tụ bên mâm cơm gia đình, vì gia đình cũng là một nơi nương tựa. Nhưng nhiều người trong chúng ta không có may mắn có một gia đình toàn vẹn, hạnh phúc nên không muốn trở về nơi ấy. Những người này rất khao khát có một nơi để trở về mỗi khi có sự cô đơn, hờn tủi. Có thể họ đi tìm nơi nương tựa ở những người khác – một người đàn ông hay một người đàn bà khác.

Có rất ít người nghĩ được rằng, mình đã có sẵn chỗ nương tựa trong chính mình. Khi tìm được chỗ nương tựa nơi giác tính thì mình sẽ có được bình an, vững chãi thật sự. Khi ấy mình có thể làm nơi nương tựa cho những người khác. Nếu những người đã tìm được chỗ nương tựa nơi giác tính của chính mình mà đến sống cùng nhau thì sẽ tạo nên một nơi nương tựa khá vững chắc cho nhiều người khác. Tập hợp những người biết nương tựa vào tự thân, và nương tựa vào nhau được gọi là tăng thân. Làng Mai là một Tăng Thân như vậy. Tăng Thân rất vững chãi; vì nó được tạo nên từ những người có chất liệu ổn định và vững chãi. Do vậy, Bụt mới dạy, mình phải biết nương tựa vào tăng. Nhưng tăng thật sự được hình thành khi các thành phần của tăng thân biết thực tập nương tựa vào hải đảo của tự thân, vào giác tính của chính mình. Tăng có ở trong mình và có ở chung quanh mình. “Về nương Tăng trong con” có nghĩa là không chỉ quay về nương tựa Tăng ở xung quanh mình mà quan trọng là quay về nương tựa Tăng ở trong mình. Dù đi bất kỳ nơi đâu, mình cũng mang theo Tăng Thân trong trái tim. Nếu mình thành công trong việc nương tựa vào Tăng Thân khi ở Làng Mai thì mình cũng có thể làm được điều này khi trở về trú xứ.

Sau khi thành đạo, Đức Thế Tôn nghĩ ngay đến việc xây dựng Tăng Thân. Mặc dù Ngài đã thành đạo, đã tìm được nơi nương tựa nhưng Ngài vẫn xây dựng một Tăng Thân để làm nơi cho những người khác đến nương tựa. Ngài biết rằng, Tăng Thân rất cần cho cuộc đời, và Ngài dành nhiều thời gian cho việc xây dựng Tăng Thân. Ngài là người dựng Tăng rất giỏi, rất nhiều kinh nghiệm, rất kiên nhẫn. Việc dựng Tăng không dễ; bởi Tăng Thân cũng có những cá nhân còn lên xuống, còn bất ổn. Do đó, người làm công tác dựng Tăng phải thật sự kiên nhẫn và từ bi.

Trong Tăng Thân của đức Thế Tôn, đôi khi cũng có những rạn nứt, nhưng đức Thế Tôn không mất hy vọng, không nản chí, và quan trọng là không mất đi tình thương. Cuối cùng, những rạn nứt ấy đã được hàn gắn. Đừng bao giờ nghĩ, Tăng Thân phải hoàn hảo, phải không có bất kỳ những khó khăn nào, hạn chế nào. Đức Thế Tôn đã xây dựng Tăng Thân hết sức thành công, và Tăng Thân đã giúp đỡ ngài rất nhiều. Một vị Bụt không có Tăng Thân giống như một nhạc công không có nhạc khí, chẳng làm ăn gì được. Nhạc sĩ phải đi tìm một nhạc khí, và Bụt phải dựng Tăng.

Sau khi thành đạo, Ngài đi tìm năm anh em ông Kiều Trần Như để giáo hóa họ, và Tăng Thân đầu tiên được hình thành gồm năm người. Tăng Thân của đức Thế Tôn đã tiếp tục được phát triển cho đến ngày hôm nay. Ngày xưa, Tăng Thân của Bụt chỉ trong phạm vi nước Ấn, nhưng hôm nay Tăng Thân ấy đã lan rộng khắp thế giới. Ngày xưa, đức Ki –Tô  cũng xây dựng Tăng Thân. Tăng thân của Ngài ban đầu chỉ mười hai người – phần lớn là những người đánh cá. Ngài nói với họ: “Theo tôi đi; mình sẽ đi cứu người; thay vì mình tung lưới bắt cá thì hãy tung lưới giáo pháp để giúp đỡ người khác.” Tăng Thân của đức Ki – Tô sau này được gọi là tông đồ. Khi Tăng Thân của Ngài lên đến con số sáu mươi, Ngài căn dặn các đệ tử của Ngài nên đi độ đời. Mục sư Martin Luther – một nhà vận động nhân quyền người Mỹ – rất ao ước xây dựng một Tăng Thân. Ngài biết rõ, nếu không có tăng thân thì không có hạnh phúc lớn, không đủ sức mạnh để tranh đấu được cho nhân quyền. Ngài gọi Tăng Thân ấy là Tăng Thân yêu quý. Nhưng rất tiếc, ngài đã bị ám sát năm 34 tuổi. Do vậy, công việc xây dựng Tăng Thân của ngài chưa được hoàn tất. Các bậc vĩ nhân đều thấy rằng, xây dựng Tăng Thân là một việc rất quan trọng; bởi vì chúng ta không những biết nương vào chính mình mà còn phải nương vào nhau. Nếu có thể nương vào giác tính của chính mình thì cũng có thể quay về nương tựa nơi Tăng Thân. Khi xây dựng Tăng Thân thành công, ta sẽ có được sự vững chãi, có được sự ổn định, và cùng với Tăng Thân, ta có thể thực hiện được hoài bão của đời mình. Đánh mất Tăng Thân là đánh mất đi cái quý báu nhất. Người nào có Tăng Thân trong trái tim thì người đó có hạnh phúc.

Năm 1966, tôi đã một mình rời quê hương để kêu gọi hoà bình cho Việt Nam. Đi một mình mà không có Tăng Thân rất là nguy hiểm. Điều này giống như một con ong xa lìa tổ, nó có thể bị tai nạn bất cứ lúc nào. Nhưng thầy không chết; bởi vì thầy đã đem theo Tăng Thân trong tim mình. Do vậy, tôi được Tăng Thân bảo hộ; tôi làm gì, nói gì cũng là làm cho Tăng Thân. Chúng ta nên thực tập để tìm một Tăng Thân tu tập nghiêm chỉnh để làm nơi nương tựa cho mình, và nơi nương tựa vững chãi nhất là ở chính mình. Mình thực tập nương tựa vào người khác trong Tăng Thân là nhằm mục đích hướng đến việc tìm nơi nương tựa trong chính bản thân mình. Mình thực tập hiến mình cho Tăng Thân, trở thành một phần tử của Tăng Thân, và mình sẽ được thừa hưởng những thành phần khác của Tăng Thân. Khi rời Làng Mai, nếu mình đem theo được Tăng Thân trong trái tim tức là đã thành công. Tăng Thân không phải chỉ có xung quanh mình mà còn có ở trong trái tim mình. Trong sự thực tập, một mặt mình cần quán sát mỗi thành phần của Tăng Thân thực tập như thế nào trong cách đi, đứng, nằm, ngồi, thở… cách tìm nơi nương tựa, mặt khác mình thực tập trở về tìm nơi nương tựa nơi chính mình trong mỗi phút giây của đời sống hằng ngày. Thực tập như thế nào để khi đi, đứng, nằm, ngồi… mình đều có nơi nương tựa. Mình không đi tìm hạnh phúc trong tương lai nữa mà tìm nó ngay trong phút giây hiện tại.

Thích Nhất Hạnh

Nguồn: langmai.org