Khác Biệt Giữa Mật Tông Hindu & Mật Tông Phật Giáo

untitled

Ảnh: sanatansociety.com

Osho ơi, liệu có khác biệt gì giữa cách tiếp cận của Shiva và Saraha đối với Mật tông không?

Không thực sự, không bản chất. Nhưng khi có liên quan tới hình dạng thì có. Tôn giáo khác biệt chỉ ở hình dạng, tôn giáo khác biệt chỉ trong phương pháp luận của chúng. Tôn giáo khác biệt khi có liên quan tới cánh cửa đi vào điều thiêng liêng, nhưng không khác biệt về sự tồn tại. Và chỉ có hai khác biệt hình dạng cơ bản: đó là con đường của thành tâm, cầu nguyện, tình yêu; và con đường của thiền, nhận biết. Hai khác biệt cơ bản này cứ còn dai dẳng.

Cách tiếp cận của Shiva là cách tiếp cận của thành tâm; nó là cách tiếp cận của lời cầu nguyện, của tình yêu. Cách tiếp cận của Saraha là cách tiếp cận của thiền, nhận biết. Sự phân biệt vẫn là hình thức, bởi vì khi tình nhân và thiền nhân đạt tới thì họ đều tới cùng đích. Mũi tên của họ được buông ra từ những góc khác nhau, nhưng chúng đều đạt tới cùng mục tiêu. Mũi tên của họ được buông ra từ những cánh cung khác nhau, nhưng chúng đều đạt tới cùng mục tiêu. Cung không phải là vấn đề chung cuộc. Kiểu cung nào bạn chọn không thành vấn đề nếu mục tiêu được đạt tới. Đây là hai cây cung bởi vì con người về cơ bản bị phân chia thành hai loại: suy nghĩ và cảm giác. Hoặc bạn có thể tiếp cận thực tại qua suy nghĩ hoặc bạn có thể tiếp cận thực tại qua cảm giác.

Cách tiếp cận của Phật tử – cách tiếp cận của Phật và Saraha – là qua thông minh. Về cơ bản thông qua tâm trí mà Saraha chuyển động. Tất nhiên tâm trí phải bị bỏ lại đằng sau, nhưng chính tâm trí là cái phải bị bỏ lại đằng sau. Dần dần tâm trí phải biến mất vào trong thiền, nhưng chính tâm trí là cái phải biến mất; chính suy nghĩ là cái phải được biến đổi, và trạng thái vô ý nghĩ phải được tạo ra. Nhưng bạn hãy nhớ: nó là trạng thái vô ý nghĩ, và điều đó có thể được tạo ra chỉ bằng việc vứt bỏ dần các ý nghĩ, dần dần. Cho nên toàn bộ công việc bao gồm trong phần suy nghĩ.

Cách tiếp cận của Shiva là cách tiếp cận của cảm giác, của trái tim. Cảm giác phải được biến đổi. Tình yêu phải được biến đổi để cho nó trở thành lời cầu nguyện. Theo cách của Shiva, người thành tâm và thượng đế vẫn còn, bhakta và bhagwan vẫn còn. Tại đỉnh tối thượng họ cả hai biến mất vào lẫn nhau. Bạn hãy lắng nghe điều đó thật cẩn thận: khi Mật tông của Shiva đạt tới cực thích tối thượng của nó, thì ta tan biến vào trong người, và người tan biến vào trong ta; họ cả hai cùng nhau, họ trở thành một đơn vị.

Khi Mật tông của Saraha đạt tới đỉnh tối thượng của nó, thì nhận biết là: bạn không là phải, bạn không là đúng, bạn không tồn tại, mà cả tôi cũng không; cả hai biến mất. Hai số không, hai không gian trống rỗng tan biến vào lẫn nhau… bởi vì toàn bộ nỗ lực trên con đường của Saraha là làm sao tan biến ý nghĩ, và ta và người đều là các phần của ý nghĩ. Khi ý nghĩ hoàn toàn biến mất, thì làm sao bạn có thể gọi bản thân mình là tôi? Và bạn sẽ gọi ai là Thượng đế của mình? Thượng đế là một phần của ý nghĩ; đó là sự sáng tạo ý nghĩ, một kết cấu ý nghĩ, một kết cấu tâm trí. Cho nên tất cả các kết cấu tâm trí đều tan biến và shunya, sự trống rỗng, nảy sinh.

Trên con đường của Shiva bạn không còn yêu hình dạng, bạn không còn yêu con người – bạn bắt đầu yêu toàn thể sự tồn tại. Toàn thể sự tồn tại trở thành người của bạn; bạn được toàn thể sự tồn tại nhắm tới. Tính sở hữu bị vứt bỏ, ghen tị bị vứt bỏ, hận thù bị vứt bỏ; tất cả những điều tiêu cực trong cảm giác đều bị vứt bỏ, và cảm giác trở thành ngày một thuần khiết hơn. Một khoảnh khắc tới khi có tình yêu thuần khiết. Trong khoảnh khắc tình yêu thuần khiết đó, bạn tan biến vào trong người và người tan biến vào trong bạn. Bạn cũng biến mất, nhưng bạn biến mất không giống như hai số không; bạn biến mất như người được yêu biến mất vào trong người yêu và người yêu biến mất vào trong người được yêu.

Cho tới điểm này họ vẫn khác nhau, nhưng điều đó nữa cũng là khác nhau về hình dạng. Bên ngoài điều này, có thành vấn đề gì dù bạn biến mất như người yêu và người được yêu, hay bạn biến mất như hai số không? Điểm cơ bản, điểm nền tảng là ở chỗ bạn biến mất, ở chỗ chẳng cái gì còn lại, ở chỗ chẳng dấu vết nào còn lại. Sự biến mất đó là chứng ngộ.

Cho nên bạn phải hiểu điều đó: nếu tình yêu hấp dẫn bạn, thì Shiva sẽ hấp dẫn bạn, và Sách Về Các Bí Mật (The Book of Secrets) sẽ là kinh thánh Mật tông của bạn. Nếu thiền hấp dẫn bạn, thế thì Saraha sẽ hấp dẫn bạn. Điều đó tuỳ thuộc vào bạn. Cả hai đều phải, cả hai đều đi tới cùng cuộc hành trình. Bạn muốn du hành cùng ai, đấy là sự chọn lựa của bạn. Nếu bạn có thể một mình và phúc lạc, thế thì Saraha… Nếu bạn không thể phúc lạc khi bạn một mình, và phúc lạc của bạn tới chỉ khi bạn có quan hệ, thế thì Shiva. Đây là sự khác biệt giữa Mật tông Hindu và Mật tông Phật giáo.

Nguồn: thiencungyoga.edu.vn

Advertisements

Các Bài Hát Thực Tập Chánh Niệm

chanhniem

Ảnh: giacngo.vn

1. Quay Về Nương Tựa

Quay về nương tựa hải đảo tự thân
Chánh niệm là Bụt soi sánh xa gần
Hơi thở là Pháp bảo hộ thân tâm
Năm uẩn là Tăng phối hợp tinh cần.

2. Thở Vào Thở Ra

Thở vào, thở ra
Là hoa tươi mát, là núi vững vàng
Nước tĩnh lặng chiếu, không gian mênh mang.

3. Vào Ra Sâu Chậm

Vào – ra – sâu – chậm
Khoẻ – nhẹ – lặng – cười
Hiện tại – tuyệt vời.

4. Đã Về, Đã Tới

Đã về, đã tới, bây giờ, ở đây
Vững chãi, thảnh thơi, quay về nương tựa
Nay tôi đã về, nay tôi đã tới
An trú bây giờ, an trú ở đây
Vững chãi như núi xanh
Thảnh thơi dường mây trắng
Cửa vô sinh mở rồi
Trạm nhiên và bất động.

5. Đây Là Tịnh Độ

Đây là tịnh độ, tịnh độ là đây
Mỉm cười chánh niệm, an trú hôm nay
Bụt là lá chín, Pháp là mây bay
Tăng thân khắp chốn, quê hương nơi này
Thở vào hoa nở, thở ra trúc lay
Tâm không rằng buộc, tiêu dao tháng ngày.

6. Hai Lời Hứa

Con xin hứa mở rộng lòng thương và tìm cách bảo vệ
sự sống của mọi người, mọi loài, cỏ cây, cầm thú và đất đá.
(thở: uum… à ba lần)

Con xin hứa mở rộng tầm hiểu biết để có thể yêu thương
và chung sống với mọi người, mọi loài, cỏ cây, cầm thú và đất đá.
(thở: uum… à ba lần)

7. Tiếng Chuông Chùa Chùa Cổ

Boong boong, tôi là chuông đại hồng
ngôi chùa xưa trên đỉnh núi.
Boong boong, tôi khua vang
mở đầu cho một bình minh mới.
Boong boong, nghe chuông tôi xin người nở nụ cười
Boong boong, nghe tiếng tôi
xin người đem mắt thương nhìn cuộc đời.

Boong boong, thở vào tâm người tĩnh lặng
Boong boong, thở ra miệng người mỉm cười
Boong boong, người trở về phút giây hiện tại
Boong boong, người an trú phút giây tuyệt vời.

Ba nghiệp lắng thanh tịnh
Gửi lòng theo tiếng chuông
Nguyện người nghe tỉnh thức
Vượt thoát nẻo đau buồn.

8. Hạnh Phúc Bây Giờ

Ta hạnh phúc liền giây phút này
Lòng đã quyết dứt hết lo âu
Không đi đâu nữa
Có chi để làm
Học buông tha
Sống không vội vàng.

Ta hạnh phúc liền giây phút này
Lòng đã quyết dứt hết lo âu
Không đi cũng tới
Thấy chi cũng làm
Lòng thanh thản
Sống trong nhẹ nhàng.

9. Thiền Trà

Chén trà trong hai tay
Chánh niệm dâng tròn đầy
Thân và tâm an trú
Bây giờ và ở đây

Khi uống chén trà trong
ta nhớ cội nhớ nguồn
Khi nhấm chén trà thơm
hỏi nước đến từ đâu
Nước từ nguồn suối cao
nước từ lòng đất sâu
Nước mầu nhiệm tuôn chảy
Ơn nước luôn tràn đầy.

10. Không Đến Không Đi

Không đi đâu, cũng không cần đến
Không trước cũng không sau
Cầm tay nhau, đứng bên nhau
Rồi chia tay, bước cho thảnh thơi
Cũng bởi vì chúng ta đã có nhau rồi từ rất lâu
Cũng bởi vì chúng ta đã có nhau hoài mai sau.

Nguồn: langmai.org

Tứ Diệu Đế – Nguyên Tắc Trị Liệu Của Y Khoa

thichthanhtu-1Ảnh: giacngo.vn

Trong mỗi chúng ta đều có hạt giống của tài năng, của tình thương và của hạnh phúc. Nếu các hạt giống ấy được nuôi dưỡng, được tưới tẩm hằng ngày thì không những mình có được hạnh phúc mà còn mang lại hạnh phúc cho người khác. Tuy vậy, ta nên biết, bên cạnh những hạnh phúc, ta vẫn còn có những khó khăn, những khổ đau trong thân tâm. Ta cần để thời gian để nhìn lại chúng, để gọi tên chúng và để công nhận sự có mặt của chúng. Ta không được đè nén hay trốn chạy chúng. Nỗi khổ niềm đau ấy có thể là do cha mẹ, tổ tiên của ta trao truyền lại. Nếu chúng ta gọi được tên của những nỗi khổ niềm đau, chúng ta sẽ cảm thấy rất khỏe. Sở dĩ, chúng ta còn khổ bởi chúng ta chưa chịu công nhận những nỗi khổ niềm đau của mình. Có công nhận chúng thì mới có cơ hội tính đến chuyện chuyển hóa chúng.

Đối với những người thương của mình, những người sống xung quanh mình, mình cũng cần quán chiếu để thấy được những khó khăn, những yếu kém, những khổ đau của họ. Bởi vì khó khăn của họ có ảnh hưởng đến hạnh phúc của chính chúng ta. Thật vậy, nhiều người đã không biết cách xử lý những khổ đau của chính họ nên không những họ tự gây khổ đau cho mình mà còn làm khổ người khác. Chúng ta phải thấy được, những người ấy rất đáng thương. Vì họ cũng chỉ là nạn nhân của những những tập khí xấu được trao truyền từ  ông bà tổ tiên qua nhiều thế hệ. Nếu thấy được nguyên nhân và gốc rễ của những khó khăn nơi người kia thì mình sẽ chấp nhận được họ mà không gây áp lực, không đòi hỏi sự thay đổi nơi họ, ngược lại còn giúp họ chuyển hóa những yếu kém ấy. Sự chấp nhận này được để thể hiện bằng chất liệu từ bi qua cách nói, cách nhìn của mình đối với người ấy. Chính sự chấp nhận đó mới có khả năng mang lại sự thay đổi nơi chính mình và nơi người khác.

Tuy nhiên, muốn giúp được người, trước tiên cần làm hòa, cần chấp nhận những khổ đau và yếu kém của chính bản thân mình. Mình có thể viết một lá thư chia sẻ những nỗi khổ niềm đau của mình với người kia. Trong thư cần nêu được nguyên nhân nào đã đưa đến những khổ đau nơi mình. Rồi mình giúp người kia quán chiếu những khổ đau của chính họ.

Các bác sĩ tâm lý trị liệu có nhiệm vụ giúp đỡ các bệnh nhân thấy được nguyên nhân dẫn đến khổ đau. Tuy nhiên, bác sĩ tâm lý trị liệu cũng phải hiểu được nỗi khổ niềm đau của chính họ, phải biết được gốc rễ đã đưa đến những nỗi khổ niềm đau ấy. Tóm lại, cả hai –bệnh nhân và bác sĩ đều phải làm việc. Họ phải thực tập như một Phật tử, là xác nhận khổ đau của mình đang có mặt. Có chấp nhận những khổ đau ấy có mặt thì mới có cơ hội tìm đến được gốc rễ của những khổ đau ấy, đó là tập đế. Khi biết được nguyên nhân của những khổ đau, mình sẽ có con đường để chuyển hóa, để trị liệu chúng, đó là đạo đế. Một bác sĩ y khoa cũng nên thực tập theo phương pháp Tứ Diệu Đế. Vì Tứ Diệu Đế là linh dược trị khổ đau.

Thích Nhất Hạnh

Nguồn: Langmai.org

Tìm Về Nơi Nương Tựa Vững Chãi

0807chungtai_card_450

Ảnh: zendenver.org

Chánh niệm khơi nguồn giác tính

Trong bài tụng Ba sự quay về có đoạn: “Về nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người, thể nhận được giác tính sớm mở lòng bồ đề”. Từ giác tính trong đoạn này chính là phật tính – tức là khả năng giác ngộ nơi mỗi người. “Về nương Bụt trong con” có nghĩa là quay về nương tựa vào giác tính sẵn có nơi mỗi người. Điều này cũng cụ thể như việc ta có lá phổi, trái tim, đôi chân,…  và ta quay về nương vào chúng để sinh tồn vậy. Có nhiều người trong chúng ta có cảm giác bấp bênh, không vững chãi, chông chênh giống như là một chiếc thuyền không có neo, thành ra không buông neo được, không đứng yên được. Mỗi người đều có nhu yếu được nương tựa vào một nơi nào đó để có thể vững chãi hơn trong cuộc sống. Và ta đang kiếm tìm nó. Đạo Bụt không chủ trương nương tựa vào một đấng thần linh ở ngoài mà hướng dẫn ta quay về nương tựa nơi giác tính có sẵn trong ta – giác tính là khả năng tỉnh thức, khả năng nhận biết những gì đang xảy ra trong phút giây hiện tại. Chánh niệm là đầu giây mối nhợ của sự tỉnh thức; chánh niệm giúp ta biết được chuyện gì đang xảy ra.

Khi thở vào mà biết được ta đang thở vào thì ta đang có chánh niệm. Có chánh niệm là có giác tính. Chánh niệm với giác tính là một thứ. Bởi vì nếu mê mờ thì đâu biết cái gì đang xảy ra. Sự ý thức rõ ràng về hơi thở vào ra của chính mình là một năng lượng giác, và nó đích thực là Bụt. Bụt chính là hơi thở có chánh niệm. Khi thở, Bụt biết mình đang thở. Bụt thở rất khỏe, rất nhẹ nhàng, rất dễ chịu. Nếu thở vào, mình cũng thở có phẩm chất như Bụt thì lúc ấy mình đang có Bụt. Bởi vì Bụt cũng là một con người; nhưng Bụt có ý thức rõ ràng về từng hành động của chính mình, Bụt an trú được trong phút giây hiện tại, có mặt cho sự sống trong phút giây hiện tại, và không bị kéo theo những thói quen. Là học trò Bụt, mình phải có mong muốn làm được như Bụt: thở như Bụt, đi như Bụt, ngồi như Bụt… Sở dĩ, bước đi của Bụt có phẩm chất là vì có giác tính. Và cái thở, cái ngồi của Ngài cũng vậy. Mình có thể học cách thở, cách đi, cách ngồi… như Ngài. Nếu mình đi, thở, ngồi… được như Bụt thì lúc ấy, giác tính của mình đang biểu hiện. Nương tựa vào giác tính nghĩa là nương tựa vào hơi thở chánh niệm, bước chân chánh niệm, thế ngồi chánh niệm… Những điều này rất cụ thể, rất thực tế, không mơ hồ chút nào. Nếu thực tập giỏi, mình sẽ có được chỗ nương tựa trong hai mươi bốn giờ một ngày. Nhưng nên nhớ, hơi thở, bước chân, thế ngồi… phải thực sự có phẩm chất, có giác tính thì chúng mới trở thành nơi nương tựa của chúng ta.

Đến Làng Mai, mình thấy xung quanh mình ai cũng hết lòng thực tập, chính phẩm chất tu tập của tập thể đã tạo cho mình niềm tin là chính mình cũng có thể làm được. Nếu người khác ngồi có phẩm chất, có hạnh phúc, không lý nào mình lại không làm được như họ? Thực tập chung với tăng thân rất có lợi, sự thực tập của người này nâng đỡ sự thực tập của người kia, mình phải tận dụng cơ hội mỗi khi được tu chung với tăng thân để nâng cao phẩm chất tu tập của mình, để trong mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi thế ngồi đều có giác tính. Hai mươi bốn giờ mỗi ngày là tặng phẩm rất lớn, ta phải biết dùng nó cho đúng đắn, cho thích hợp, đừng để thời gian quý báu phí hoài trôi qua. Ta phải sử dụng thời gian thật khéo léo như một nghệ sĩ thì mới không đánh mất sự sống một cách oan uổng. Như vậy, rõ ràng, giác tính không nằm ở ngoài; nó nằm trong năm uẩn của mình. Muốn tìm Bụt chỉ cần tìm nơi hơi thở, bước chân, thế ngồi… có chánh niệm. Nương vào hơi thở có chánh niệm là nương tựa Bụt, là quy y Bụt. Bụt không phải là một đấng thần linh ở bên ngoài. Đến Làng Mai là cơ hội để chúng ta học thở, học đi, học ngồi… để tiếp xúc được với giác tính làm chỗ nương tựa cho chính mình.

Tăng Thân trong trái tim

Chúng ta đã đi lang bạt quá nhiều rồi. Chúng ta ước muốn có một nơi để quay về, để nương tựa, để có được sự bình an trong thân tâm. Chúng ta không nên tìm nơi nương tựa đó ở ngoài; hãy tìm nó ngay trong giây phút hiện tại, trong năm uẩn của mình. Các bậc hiền nhân đều biết được điều này: trở về và hiểu biết chính mình. Nhưng phần lớn chúng ta không thấy được như vậy nên đã thường xuyên hướng ngoại. Ở phương Tây, Giáng sinh là ngày mà người ta có khuynh hướng tìm về xum họp với gia đình; ở châu Á thì trong ngày tết Nguyên Đán dù đi đâu xa ai ai cũng phải thu xếp công việc để về đoàn tụ bên mâm cơm gia đình, vì gia đình cũng là một nơi nương tựa. Nhưng nhiều người trong chúng ta không có may mắn có một gia đình toàn vẹn, hạnh phúc nên không muốn trở về nơi ấy. Những người này rất khao khát có một nơi để trở về mỗi khi có sự cô đơn, hờn tủi. Có thể họ đi tìm nơi nương tựa ở những người khác – một người đàn ông hay một người đàn bà khác.

Có rất ít người nghĩ được rằng, mình đã có sẵn chỗ nương tựa trong chính mình. Khi tìm được chỗ nương tựa nơi giác tính thì mình sẽ có được bình an, vững chãi thật sự. Khi ấy mình có thể làm nơi nương tựa cho những người khác. Nếu những người đã tìm được chỗ nương tựa nơi giác tính của chính mình mà đến sống cùng nhau thì sẽ tạo nên một nơi nương tựa khá vững chắc cho nhiều người khác. Tập hợp những người biết nương tựa vào tự thân, và nương tựa vào nhau được gọi là tăng thân. Làng Mai là một Tăng Thân như vậy. Tăng Thân rất vững chãi; vì nó được tạo nên từ những người có chất liệu ổn định và vững chãi. Do vậy, Bụt mới dạy, mình phải biết nương tựa vào tăng. Nhưng tăng thật sự được hình thành khi các thành phần của tăng thân biết thực tập nương tựa vào hải đảo của tự thân, vào giác tính của chính mình. Tăng có ở trong mình và có ở chung quanh mình. “Về nương Tăng trong con” có nghĩa là không chỉ quay về nương tựa Tăng ở xung quanh mình mà quan trọng là quay về nương tựa Tăng ở trong mình. Dù đi bất kỳ nơi đâu, mình cũng mang theo Tăng Thân trong trái tim. Nếu mình thành công trong việc nương tựa vào Tăng Thân khi ở Làng Mai thì mình cũng có thể làm được điều này khi trở về trú xứ.

Sau khi thành đạo, Đức Thế Tôn nghĩ ngay đến việc xây dựng Tăng Thân. Mặc dù Ngài đã thành đạo, đã tìm được nơi nương tựa nhưng Ngài vẫn xây dựng một Tăng Thân để làm nơi cho những người khác đến nương tựa. Ngài biết rằng, Tăng Thân rất cần cho cuộc đời, và Ngài dành nhiều thời gian cho việc xây dựng Tăng Thân. Ngài là người dựng Tăng rất giỏi, rất nhiều kinh nghiệm, rất kiên nhẫn. Việc dựng Tăng không dễ; bởi Tăng Thân cũng có những cá nhân còn lên xuống, còn bất ổn. Do đó, người làm công tác dựng Tăng phải thật sự kiên nhẫn và từ bi.

Trong Tăng Thân của đức Thế Tôn, đôi khi cũng có những rạn nứt, nhưng đức Thế Tôn không mất hy vọng, không nản chí, và quan trọng là không mất đi tình thương. Cuối cùng, những rạn nứt ấy đã được hàn gắn. Đừng bao giờ nghĩ, Tăng Thân phải hoàn hảo, phải không có bất kỳ những khó khăn nào, hạn chế nào. Đức Thế Tôn đã xây dựng Tăng Thân hết sức thành công, và Tăng Thân đã giúp đỡ ngài rất nhiều. Một vị Bụt không có Tăng Thân giống như một nhạc công không có nhạc khí, chẳng làm ăn gì được. Nhạc sĩ phải đi tìm một nhạc khí, và Bụt phải dựng Tăng.

Sau khi thành đạo, Ngài đi tìm năm anh em ông Kiều Trần Như để giáo hóa họ, và Tăng Thân đầu tiên được hình thành gồm năm người. Tăng Thân của đức Thế Tôn đã tiếp tục được phát triển cho đến ngày hôm nay. Ngày xưa, Tăng Thân của Bụt chỉ trong phạm vi nước Ấn, nhưng hôm nay Tăng Thân ấy đã lan rộng khắp thế giới. Ngày xưa, đức Ki –Tô  cũng xây dựng Tăng Thân. Tăng thân của Ngài ban đầu chỉ mười hai người – phần lớn là những người đánh cá. Ngài nói với họ: “Theo tôi đi; mình sẽ đi cứu người; thay vì mình tung lưới bắt cá thì hãy tung lưới giáo pháp để giúp đỡ người khác.” Tăng Thân của đức Ki – Tô sau này được gọi là tông đồ. Khi Tăng Thân của Ngài lên đến con số sáu mươi, Ngài căn dặn các đệ tử của Ngài nên đi độ đời. Mục sư Martin Luther – một nhà vận động nhân quyền người Mỹ – rất ao ước xây dựng một Tăng Thân. Ngài biết rõ, nếu không có tăng thân thì không có hạnh phúc lớn, không đủ sức mạnh để tranh đấu được cho nhân quyền. Ngài gọi Tăng Thân ấy là Tăng Thân yêu quý. Nhưng rất tiếc, ngài đã bị ám sát năm 34 tuổi. Do vậy, công việc xây dựng Tăng Thân của ngài chưa được hoàn tất. Các bậc vĩ nhân đều thấy rằng, xây dựng Tăng Thân là một việc rất quan trọng; bởi vì chúng ta không những biết nương vào chính mình mà còn phải nương vào nhau. Nếu có thể nương vào giác tính của chính mình thì cũng có thể quay về nương tựa nơi Tăng Thân. Khi xây dựng Tăng Thân thành công, ta sẽ có được sự vững chãi, có được sự ổn định, và cùng với Tăng Thân, ta có thể thực hiện được hoài bão của đời mình. Đánh mất Tăng Thân là đánh mất đi cái quý báu nhất. Người nào có Tăng Thân trong trái tim thì người đó có hạnh phúc.

Năm 1966, tôi đã một mình rời quê hương để kêu gọi hoà bình cho Việt Nam. Đi một mình mà không có Tăng Thân rất là nguy hiểm. Điều này giống như một con ong xa lìa tổ, nó có thể bị tai nạn bất cứ lúc nào. Nhưng thầy không chết; bởi vì thầy đã đem theo Tăng Thân trong tim mình. Do vậy, tôi được Tăng Thân bảo hộ; tôi làm gì, nói gì cũng là làm cho Tăng Thân. Chúng ta nên thực tập để tìm một Tăng Thân tu tập nghiêm chỉnh để làm nơi nương tựa cho mình, và nơi nương tựa vững chãi nhất là ở chính mình. Mình thực tập nương tựa vào người khác trong Tăng Thân là nhằm mục đích hướng đến việc tìm nơi nương tựa trong chính bản thân mình. Mình thực tập hiến mình cho Tăng Thân, trở thành một phần tử của Tăng Thân, và mình sẽ được thừa hưởng những thành phần khác của Tăng Thân. Khi rời Làng Mai, nếu mình đem theo được Tăng Thân trong trái tim tức là đã thành công. Tăng Thân không phải chỉ có xung quanh mình mà còn có ở trong trái tim mình. Trong sự thực tập, một mặt mình cần quán sát mỗi thành phần của Tăng Thân thực tập như thế nào trong cách đi, đứng, nằm, ngồi, thở… cách tìm nơi nương tựa, mặt khác mình thực tập trở về tìm nơi nương tựa nơi chính mình trong mỗi phút giây của đời sống hằng ngày. Thực tập như thế nào để khi đi, đứng, nằm, ngồi… mình đều có nơi nương tựa. Mình không đi tìm hạnh phúc trong tương lai nữa mà tìm nó ngay trong phút giây hiện tại.

Thích Nhất Hạnh

Nguồn: langmai.org